Chương 1 với nội dung giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 của nghiên cứu sẽ trình bày tóm tắt cơ sở lý thuyết các nghiên cứu có liên quan đến các vấn đề di cư, CLS và NCT. Nội dung chương 3 sẽ xem xét phân tích các kết quả nghiên cứu từ thông tin thu thập được để đánh giá mức độ hài lòng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến CLS của các đối tượng nghiên cứu và xem xét tác động của di cư đến chất lượng sống của họ. Cuối cùng, đề tài sẽ nêu lên các kết luận và hàm ý chính sách rút ra cũng như chỉ ra những hạn chế gặp phải để mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo tại chương 4.
------- -5- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Chương 2 trình bày các lý thuyết về kết quả của dòng di cư lao động đến những người còn ở lại cũng như lý thuyết về NCT và chất lượng sống. Từ đó, nghiên cứu hình thành khung phân tích bao gồm sáu nhóm yếu tố chính tạo nên chất lượng sống của NCT còn ở lại trong các hộ gia đình có lao động di cư. Tổng quan lý thuyết 2. Tác động của di cư lao động đến nơi xuất cư Thuật ngữ “di cư” là một quá trình xuất cư và nhập cư của một hoặc một nhóm người từ khu vực này sang khu vực khác kèm theo việc thay đổi nhân khẩu của vùng 5.
Nếu di cư hoàn toàn được xác định bằng sự di chuyển của tất cả thành viên trong hộ, tất cả công việc và tài sản từ nơi cũ sang nơi mới thì di cư lao động được thể hiện ở sự chuyển đổi nơi làm việc của người lao động từ nơi cư trú cũ sang nơi cư trú mới nhưng không bao gồm tài sản và các thành viên của hộ6. Những tác động của di cư lao động đối với nơi xuất cư thể hiện ở nhiều khía cạnh về dân số, kinh tế, xã hội và đặc biệt là những người phụ thuộc còn ở lại. Thứ nhất về khía cạnh dân số, một trong những tác động đó là thay đổi cơ cấu nhân khẩu xã hội nơi xuất cư và sự biến động cơ cấu tuổi theo chiều hướng làm “già hoá” cư dân vùng xuất cư. Ngoài ra, di cư còn tạo ra những gánh nặng áp đặt lên các thành viên còn ở lại trong hộ gia đình trong đó có trẻ em và NCT.
Chi phí xã hội và tác động tâm lý từ sự xa cách của các thành viên trong gia đình, những gánh nặng của việc di cư cho các thành viên trong gia đình và trẻ em còn ở lại là rất lớn7. Thứ hai về khía cạnh kinh tế, nhiều nước nghèo có tỷ lệ di cư cao thì tỷ lệ NCT ở lại thiếu sự chăm sóc của con cái cũng tăng theo và họ sẽ làm việc theo cách của họ để đối mặt với các vấn đề về sinh kế và sức khoẻ8. Theo nghiên cứu của Tổ chức di cư quốc tế (IOM) về những nhu cầu cụ thể của trẻ em và người già ở lại với kết quả của việc di cư ở Moldova 5 Nguyễn Nam Phương (2011) 6 Trần Hồng Vân (2002) 7 Dinh Vu Trang Ngan, Jonathan Pincus, John Sender (2012) 8 Stohr, Tobias (2013) -6- cho rằng ông bà sẽ thay thế con cái của họ để chăm sóc và giám hộ các cháu nếu con họ đi làm xa. Họ phải đối mặt với những thách thức về nguồn thu nhập, sức khoẻ, tâm lý, tinh thần, sự tôn trọng, khả năng tiếp cận các dịch vụ và tiện ích xã hội, sinh hoạt cộng đồng và sự trọn vẹn gia đình.
Thứ ba về khía cạnh xã hội, di cư lao động ảnh hưởng đến việc sắp xếp cuộc sống của NCT còn lại. Nghiên cứu định lượng xác định khi tăng một lao động di cư thì sẽ làm tăng gấp đôi khả năng NCT trong hộ sống cô độc9. Di cư cũng có thể thay đổi cơ cấu hộ gia đình và tăng khả năng sống một mình của NCT. Tuy nhiên, di cư cũng có thể tạo ra những tác động tích cực cho những NCT còn ở lại.
Cụ thể, di cư như là một chiến lược giảm thiểu những rủi ro về cuộc sống cho hộ gia đình có thể có lợi cho cả NDC và người ở lại10. Di cư thường kết hợp với công nghiệp hoá và đô thị hoá có thể làm cho NCT còn ở lại ít bị ảnh hưởng về cuộc sống hơn11. Như vậy, di cư lao động nói riêng và di cư nói chung đều gây nên sự biến đổi cơ cấu nhân khẩu kinh tế và xã hội gây nên những tác động tích cực và tiêu cực đến cả nơi dân cư chuyển đi và nơi dân cư chuyển đến. Những đặc điểm của người cao tuổi Khái niệm về NCT có sự khác nhau giữa các nước.
Nghiên cứu này sẽ thống nhất NCT là người có tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên theo Luật người cao tuổi năm 2011 của Việt Nam và chia NCT thành 3 nhóm theo đặc trưng dân số Việt Nam, bao gồm nhóm 1 từ 60-69 tuổi, nhóm 2 từ 70-79 tuổi và nhóm 3 từ 80 tuổi trở lên. Những đặc điểm mà NCT cần được quan tâm là sức khoẻ thể chất, tâm lý, tình cảm, sức khoẻ tinh thần và đời sống vật chất. Trước tiên là các vấn đề về sức khoẻ thể chất. Hai nhóm bệnh chính mà NCT thường mắc phải là bệnh thông thường và các bệnh mãn tính kéo dài12.
Già hoá là cơ hội cho các tác nhân gây hại bên ngoài xâm nhập dễ dàng vào cơ thể để gây bệnh. (2008) 10 Espinosa (1977) 11 Masson (1992) 12 Dương Huy Lương (2010) -7- Theo ước tính của WHO thì có khoảng 40% NCT trên thế giới có giới hạn khả năng đi lại và thực hiện các sinh hoạt, trong đó có khoảng 10% NCT không tự thực hiện được các sinh hoạt hàng ngày tối thiểu. Lứa tuổi càng tăng thì tỷ lệ đi lại khó khăn càng tăng. Tiếp theo là các vấn đề về tâm lý, các mối quan hệ và sức khoẻ tinh thần.
NCT ngoài suy yếu về thể chất thì các giác quan điều tiết cảm xúc tâm lý tình cảm cũng suy yếu. Khả năng làm chủ cảm xúc của NCT cũng suy giảm biểu hiện ở tình trạng thiếu tập trung và dễ quên, thường nhớ việc quá khứ, rất dễ xúc cảm, tủi thân, khó chịu vô cớ13. Ngoài ra, NCT dễ rơi vào cảm giác là người thừa của gia đình và xã hội khi họ không còn nhận được sự kính trọng như lúc còn trẻ. Họ dễ cảm thấy bị bỏ rơi, chán nản và buồn tủi.
Tính tình của họ cũng thay đổi, trở nên bảo thủ hơn. NCT dễ có thái độ thất vọng, chán nản, lo âu và mong muốn được quan tâm nhiều hơn bình thường14. Sau cùng là các vấn đề về đời sống vật chất. Nguồn thu nhập từ con cái hỗ trợ là nguồn thu chủ yếu của NCT.
Tuy nhiên người lao động từ nông thôn ra thành phố gồm cả nam và nữ đều phải đối mặt với những trở ngại khác nhau trong quá trình cư trú và làm việc, điều này làm ảnh hưởng đến mức độ và khả năng gửi tiền về gia đình của họ15. Nguồn thu nhập từ nhà nước hỗ trợ chủ yếu là trợ cấp hưu trí từ bảo hiểm xã hội và trợ cấp NCT được trích từ nguồn quỹ an sinh xã hội. Quan điểm về chất lượng sống của người cao tuổi Theo quan điểm của các tổ chức quốc tế thì chất lượng sống (quality of life) bao gồm các yếu tố về vật chất, các khía cạnh về sức khoẻ thể chất và tình thần trong đời sống cá nhân của mỗi người. Theo nghiên cứu của trường đại học Oklahoma School of Social Work (1981) đã chỉ ra CLS được xác định thông qua các yếu tố theo sơ đồ hình 2.
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì chất lượng sống là khái niệm rộng dùng để đánh giá tổng thể các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và xã hội. WHO đã tổng hợp và đưa ra bộ công cụ đo lường chất lượng sống “WHOQOL-100” vào năm 1995 với 100 câu hỏi về mức độ hài lòng về chất lượng sống bao gồm 6 nhóm: sức khoẻ thể chất, quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường, tâm lý và niềm tin. Bộ công cụ này được thiết kế khá đầy đủ và thường được sử dụng để đánh giá chất lượng sống tại các quốc gia. 13 Dương Huy Lương (2010) 14 Dương Huy Lương (2010) 15 Tổng cục thống kê Việt Nam (2012) -8- Hình 2.1 Hệ thống đánh giá chất lượng sống của Oklahoma Nguồn: The University of Oklahoma School of Social Work, 1981 Quan niệm về CLS của NCT ở Việt Nam được các tác giả Lê Thị Hải Hà, Nguyễn Thái Quỳnh Chi và Nguyễn Hoàng Phương thực hiện nghiên cứu năm 2009 và kết luận 6 nhóm yếu tố hình thành nên CLS đặc trưng cho NCT ở Việt Nam.
Trong mỗi nhóm yếu tố sẽ bao gồm tập hợp những nhân tố chủ yếu hình thành nên chất lượng sống. Khung phân tích của nghiên cứu Chất lượng sống là một khái niệm rộng, trong giới hạn của nghiên cứu chỉ xem xét trên sáu nhóm yếu tố về kinh tế, sức khoẻ, quan hệ xã hội, tâm lý, môi trường và niềm tin. Các nhóm yếu tố được người nghiên cứu tổng hợp từ các nghiên cứu trước và tình hình thực tế tại địa phương. Thứ nhất, nhóm yếu tố kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố quan hệ xã hội, sức khoẻ, tâm lý và niềm tin.
Nghiên cứu này sẽ bổ sung về sự phụ thuộc tài chính, sự đáp ứng nhu cầu sống cơ bản hàng ngày, ăn những món ưa thích. Thứ hai, nhóm yếu tố sức khoẻ có quan hệ chặt chẽ với yếu tố tâm lý, tình trạng kinh tế và các mối quan hệ gia đình, xã hội. Nhóm này được người nghiên cứu đánh giá là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến CLS của NCT. -9- Thứ ba, nhóm yếu tố quan hệ xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố kinh tế và tâm lý.
Ở các nước đang phát triển chỉ đề cập chung đến trợ giúp xã hội và các mối quan hệ với người xung quanh. Trong nghiên cứu này nhấn mạnh hơn đến vai trò của NCT trong các quan hệ gia đình và xã hội, đặc biệt là vai trò của NCT trong gia đình về lời nói, tác động, nghĩa vụ và vai trò chăm sóc con cháu khi gia đình có NDC lao động.2 Sáu nhóm yếu tố hình thành nên chất lượng sống của NCT Việt Nam Nguồn: Tác giả tổng hợp.