chương 1 thực hiện tổng quan về phương pháp và cấu trúc của luận văn. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY. Nội dung chương 2 thực hiện tổng quan về danh tiếng truyền thông và tác động của nó lên hoạt động của các ngân hàng thương mại. Chương 2 cũng tổng quát về các khái niệm liên quan đến danh tiếng truyền thông và hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời, thực hiện đánh giá các nghiên cứu trước đây liên quan đến tác động của danh tiếng truyền thông đến hoạt động của ngân hàng thương mại.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 3 thực hiện mô tả phương pháp nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu, bao gồm phương pháp nghiên cứu mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu, đồng thời giải thích về mô hình nghiên cứu và các giả thuyết của nghiên cứu. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Chương 4 thực hiện phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu dựa trên phân tích dữ liệu thu thập được từ các ngân hàng thương mại niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM, đồng thời, thực hiện đánh giá tác động của danh tiếng truyền thông đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại và đưa ra các kết luận.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ. 8 Chương 5 thực hiện tóm tắt kết quả nghiên cứu và các phát hiện chính, và đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm cải thiện hoạt động của các ngân hàng thương mại liên quan đến danh tiếng truyền thông. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khái niệm danh tiếng Vấn đề liên quan đến danh tiếng của công ty vẫn còn gây tranh cãi cho đến nay, bởi vì các nhà nghiên cứu không đồng ý với định nghĩa và yếu tố cấu trúc của danh tiếng công ty.
Danh tiếng công ty do Fombrun (1996) đưa ra và ông định nghĩa danh tiếng công ty là điểm thu hút toàn bộ khách hàng, nhân viên, nhà đầu tư và công chúng khác. Bromley (2000) định nghĩa danh tiếng công ty là cách thức đưa ra các khái niệm liên quan đến tổ chức từ công chúng. Gotsi và Wilson (2001) định nghĩa danh tiếng của công ty là sự đánh giá của công chúng đối với tổ chức trong thời gian dài. Gần đây, liên quan đến danh tiếng của công ty, các nghiên cứu về các yếu tố cấu trúc của danh tiếng đã được kích hoạt.
Cụ thể, Fombrun (1996) cho rằng danh tiếng của công ty bao gồm chất lượng sản phẩm, môi trường việc làm, triết lý công ty, trách nhiệm xã hội, phương pháp tình cảm và hiệu quả tài chính. Lewis (2001) cho rằng danh tiếng của công ty bao gồm chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, đội ngũ nhân viên, hiệu quả tài chính, quản lý, trách nhiệm môi trường và trách nhiệm xã hội. Như vậy, hầu hết các định nghĩa về danh tiếng của doanh nghiệp đều dựa vào bản chất cảm nhận của danh tiếng. Cụ thể, danh tiếng của công ty có thể được đánh giá theo kinh nghiệm dựa trên sự chia sẻ của kinh nghiệm của các bộ phận liên quan với công ty và với bất kỳ phương tiện truyền thông về hoạt động của công ty so sánh với các công ty đối thủ (Gotsi & Wilson, 2001; Wartick, 2002).
Theo đó, danh tiếng của công ty có thể được đo lường dựa trên các khía cạnh khác nhau. Groenland (2002) đề xuất danh tiếng là một trong những thang đo lường phổ biến nhất của danh tiếng của doanh nghiệp. Có sáu khía cạnh được tính đến trong danh tiếng của một công ty, bao gồm: hấp dẫn về cảm xúc, sản phẩm và dịch vụ, tầm nhìn và khả năng lãnh đạo, môi trường làm việc, trách nhiệm xã hội và môi trường, và hiệu quả tài chính. Trong nhiều nghiên cứu, các 10 khía cạnh này được sử dụng để đo lường danh tiếng tổng thể của công ty.
Trong ngành ngân hàng, các phương pháp đo lường này đã được mở rộng để bao gồm chăm sóc khách hàng và tổng thể dịch vụ ngân hàng. Trên cơ sở khái niệm về danh tiếng của doanh nghiệp được Gotsi & Wilson (2001) và Wartick (2002) đưa ra, trong nghiên cứu này tác giả nhận định rằng danh tiếng truyền thông của một ngân hàng thương mại không chỉ đơn giản được xác định thông qua thái độ của khách hàng mà còn được thu thập từ các nguồn thông tin, phương tiện truyền thông truyền thống hoặc phương tiện truyền thông hiện đại. Theo Shoemaker & Reese (1991), các nguồn thông tin của công ty có thể bao gồm các thông cáo báo chí được chuẩn bị bởi bộ phận quan hệ công chúng, ý kiến của các bên liên quan, văn phòng chính phủ và đánh giá từ các cơ quan xếp hạng được công bố trong các thông cáo báo chí (Fombrun, 1996) và cả những bài viết của các nhân viên truyền thông như phóng viên và biên tập viên viết về công ty (Shoemaker & Reese, 1991). Trong nghiên cứu đầu tiên của mình, Deephouse (2000) đề xuất khái niệm "danh tiếng truyền thông" của một công ty, trong đó danh tiếng truyền thông được định nghĩa là đánh giá tổng thể của một công ty trên các phương tiện truyền thông.
Nguồn lưu trữ báo chí được sử dụng để phân tích và đo lường cấu trúc này. (Deephouse, 2000) Khi xem xét các tài liệu về danh tiếng doanh nghiệp, có thể thấy rằng, nhiều nhà nghiên cứu, các học và chuyên gia trên thế giới đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về danh tiếng doanh nghiệp. (Kurd, Medeni, Medeni, & Sağsan, 2017) Gotsi và Wilson (2001) đã định nghĩa danh tiếng công ty là “đánh giá tổng thể của các bên liên quan về công ty theo thời gian”. Qua quá trình lược khảo tài liệu có thể thấy định nghĩa danh tiếng của công ty được đưa ra dưới góc độ nhận thức và đánh giá của từng cá nhân.
Những nhận thức và đánh giá này dựa trên kinh nghiệm trực tiếp của các bên liên quan với công ty, mối quan hệ với nhân viên hoặc đại diện của công ty, biểu tượng tổ chức và thông tin được cung cấp qua các kênh truyền thông và so sánh với các đối thủ khác. (Abratt & Kleyn, 2012; Gotsi & Wilson, 2001) 11 Barnett, Jermier, và Lafferty (2006) đã định nghĩa danh tiếng của công ty là “những đánh giá tập thể về một công ty dựa trên những đánh giá về các tác động tài chính, xã hội và môi trường do công ty gây ra theo thời gian”. 370) đã định nghĩa danh tiếng của công ty là “sự trình bày tổng hợp về mặt cảm nhận một cách tương đối ổn định, cụ thể về các hành động trong quá khứ và triển vọng tương lai của một công ty so với một số tiêu chuẩn”. 370) Theo Šontaitė-Petkevičienė (2014), danh tiếng doanh nghiệp được định nghĩa là “sự công nhận, nhận thức, thái độ và đánh giá chủ quan và tập thể về một tổ chức theo thời gian giữa tất cả các nhóm liên quan dựa trên các khía cạnh chất lượng tổ chức cụ thể, hành vi trong quá khứ, giao tiếp, biểu tượng, khả năng và tiềm năng để đáp ứng các kỳ vọng trong tương lai so với các đối thủ cạnh tranh”.
(Šontaitė-Petkevičienė, 2014) Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới, bên cạnh các yếu tố cơ bản tạo dựng thành công cho các doanh nghiệp trên con đường nắm bắt các cơ hội mới, uy tín doanh nghiệp sẽ luôn là một phần quan trọng, là tài sản vô hình quý giá có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bản thân doanh nghiệp. Đặc biệt, trong thời kì mà dịch bệnh COVID-19 vẫn đang là mối nguy hiểm cho toàn bộ xã hội, kéo theo nền kinh tế ngày một có dấu hiệu khủng hoảng thì việc có thể tận dụng được càng giá trị của một tài sản vô hình như danh tiếng nhằm duy trì hoạt động và từ đó phát triển mạnh mẽ trở lại. Danh tiếng của một thực thể xã hội (một người, một nhóm xã hội, một tổ chức hoặc một địa điểm) là ý kiến về thực thể đó thường là kết quả của đánh giá xã hội dựa trên một bộ tiêu chí, chẳng hạn như hành vi hoặc hiệu suất. (Merriam- webster, 2020) Danh tiếng là một cơ chế kiểm soát xã hội phổ biến, tự phát và hiệu quả cao.
Nó là một chủ đề nghiên cứu về xã hội, quản lý, và khoa học công nghệ. Ảnh hưởng của nó bao gồm từ môi trường cạnh tranh, như thị trường, đến môi 12 trường hợp tác, như doanh nghiệp, tổ chức, thể chế và cộng đồng. Hơn nữa, danh tiếng tác động lên các cấp độ khác nhau của cơ quan, cá nhân và siêu cá nhân. Ở cấp độ siêu cá nhân, nó liên quan đến các nhóm, cộng đồng, tập thể và các thực thể xã hội trừu tượng (như doanh nghiệp, tập đoàn, tổ chức, quốc gia, nền văn hóa và thậm chí cả nền văn minh).
Nó ảnh hưởng đến các hiện tượng ở các quy mô khác nhau, từ cuộc sống hàng ngày đến các mối quan hệ giữa các quốc gia. Danh tiếng là một công cụ cơ bản của trật tự xã hội, dựa trên sự kiểm soát xã hội tự phát và phân tán.; Nagel, Christian; Sandner, Philipp, 2018) (Voswinkel, Stephan, 2011) Khái niệm danh tiếng được coi là quan trọng trong kinh doanh, chính trị, giáo dục, cộng đồng trực tuyến và nhiều lĩnh vực khác và nó có thể được coi là sự phản ánh danh tính của thực thể xã hội đó. Nhìn chung, có thể hiểu: Danh tiếng là một sự diễn đạt về việc "nổi danh" của một người hay một di sản, thắng cảnh, và được so sánh với những người và vật khác bởi một đặc điểm nổi bật, nổi trội hơn. Theo đó, danh tiếng thường được đánh đồng với thành công và cả hai luôn đi song song với nhau.
Trong kinh doanh, danh tiếng thường được nhìn nhận ở khía cạnh danh tiếng của thương hiệu, danh tiếng của thương hiệu, đơn thuần đó là cách người khác nhìn vào một người hay doanh nghiệp và định nghĩa doanh nghiệp đó là ai, thương hiệu đó là gì? 2. Khái niệm hiệu quả của doanh nghiệp Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có khá nhiều nghiên cứu kiểm định, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, có thể kể tên một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì có thể thấy hiệu quả hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp đã được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau bao gồm cả góc độ tài chính và phi tài chính.