Tác động của covid 19 đối với các hộ gia đình trồng nhãn nghiên cứu trường hợp tại xã hàm tử huyện khoái châu tỉnh hưng yên

Chuyên khảo phân tích Tác động của covid 19 đối với các hộ gia đình trồng nhãn nghiên cứu trường hợp tại xã hàm tử huyện, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

92
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1. PHẦN 1: GIỚI THIỆU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1. Mục tiêu chung

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu

1.2.2. Khách thể nghiên cứu

1.2.3. Phạm vi nghiên cứu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu

2.1.1. Lý thuyết AGIL của T. Parsons

2.1.2. Lý thuyết lựa chọn duy lý

2.2. Các nghiên cứu liên quan

2.3. Hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhãn của các hộ gia đình

2.4. Ảnh hưởng của Covid-19 đối các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp

2.5. Các khái niệm liên quan đến đề tài

2.5.1. Khái niệm hộ gia đình

2.5.2. Đại dịch Covid-19

3. PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Chọn điểm nghiên cứu

3.2. Phương pháp thu thập thông tin

3.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp

3.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp

3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

3.3.1. Khung phân tích

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm chung của hộ gia đình trồng nhãn

4.2. Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của chủ hộ

4.3. Đặc điểm của lao động trong hộ gia đình trồng nhãn

4.4. Hoàn cảnh kinh tế của hộ gia đình trồng nhãn

4.5. Tác động của covid-19 đến hoạt động trồng và tiêu thụ nhãn

4.5.1. Tác động của dịch covid-19 đến hoạt động sản xuất nhãn

4.5.2. Tác động của covid-19 đến hoạt động tiêu thụ nhãn

4.6. Tác động của covid-19 đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình trồng nhãn

4.6.1. Tác động của covid-19 đến thu nhập của các hộ gia đình trồng nhãn

4.6.2. Tác động của covid-19 đến chi tiêu của các hộ gia đình trồng nhãn

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của Covid 19 đến hộ gia đình trồng nhãn

Đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, trong đó có nông nghiệp. Tại Hưng Yên, đặc biệt là xã Hàm Tử, các hộ gia đình trồng nhãn đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc sản xuất và tiêu thụ nhãn bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến sự thay đổi trong thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Nghiên cứu này sẽ phân tích những tác động cụ thể của dịch bệnh đến đời sống của các hộ gia đình trồng nhãn.

1.1. Tình hình sản xuất nhãn trước và sau Covid 19

Trước khi dịch Covid-19 bùng phát, sản xuất nhãn tại Hưng Yên diễn ra ổn định với năng suất cao. Tuy nhiên, sau khi dịch bệnh xảy ra, nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong việc duy trì sản xuất do đứt gãy chuỗi cung ứng và giá cả tăng cao.

1.2. Tác động xã hội của Covid 19 đến hộ gia đình trồng nhãn

Dịch bệnh không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn tác động đến đời sống xã hội của các hộ gia đình. Nhiều gia đình phải thay đổi phương thức sinh sống, tìm kiếm nguồn thu nhập mới để bù đắp cho sự giảm sút trong thu nhập từ việc trồng nhãn.

II. Những thách thức lớn đối với hộ gia đình trồng nhãn trong đại dịch

Hộ gia đình trồng nhãn tại Hưng Yên đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh dịch Covid-19. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm. Việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

2.1. Khó khăn trong việc tiêu thụ nhãn

Việc giãn cách xã hội và các biện pháp hạn chế đi lại đã làm giảm khả năng tiêu thụ nhãn. Nhiều hộ gia đình không thể tìm được người thu mua, dẫn đến tình trạng tồn đọng sản phẩm.

2.2. Tăng chi phí sản xuất và giảm lợi nhuận

Giá phân bón và các chi phí sản xuất khác tăng cao trong khi giá bán nhãn lại giảm. Điều này đã làm giảm lợi nhuận của các hộ gia đình trồng nhãn, ảnh hưởng đến đời sống của họ.

III. Phương pháp giải quyết khó khăn cho hộ gia đình trồng nhãn

Để vượt qua những thách thức do Covid-19 gây ra, các hộ gia đình trồng nhãn đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những giải pháp này không chỉ giúp duy trì sản xuất mà còn cải thiện thu nhập cho các hộ gia đình.

3.1. Tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới

Nhiều hộ gia đình đã chủ động tìm kiếm các kênh tiêu thụ mới, bao gồm việc bán hàng trực tuyến và hợp tác với các doanh nghiệp để mở rộng thị trường.

3.2. Tăng cường hỗ trợ từ chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương đã có những biện pháp hỗ trợ như tổ chức các chương trình tiêu thụ nông sản, giúp các hộ gia đình trồng nhãn tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của Covid 19 đến hộ gia đình trồng nhãn

Nghiên cứu cho thấy rằng Covid-19 đã có những tác động tiêu cực đến đời sống của các hộ gia đình trồng nhãn tại Hưng Yên. Tuy nhiên, nhờ vào những nỗ lực thích ứng, nhiều hộ gia đình đã tìm ra cách để vượt qua khó khăn.

4.1. Thay đổi trong thu nhập và chi tiêu

Thu nhập của các hộ gia đình trồng nhãn đã giảm đáng kể, dẫn đến việc chi tiêu cũng bị hạn chế. Nhiều hộ gia đình đã phải điều chỉnh lại ngân sách để phù hợp với tình hình mới.

4.2. Tình hình sản xuất nhãn sau đại dịch

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng một số hộ gia đình đã tìm ra cách để duy trì sản xuất nhãn, nhờ vào việc áp dụng các biện pháp canh tác mới và cải thiện chất lượng sản phẩm.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho hộ gia đình trồng nhãn

Tác động của Covid-19 đến hộ gia đình trồng nhãn tại Hưng Yên là một vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, với những nỗ lực thích ứng và hỗ trợ từ chính quyền, triển vọng tương lai cho ngành trồng nhãn vẫn còn sáng sủa.

5.1. Triển vọng phát triển ngành nhãn sau Covid 19

Ngành trồng nhãn có thể phục hồi và phát triển mạnh mẽ nếu các hộ gia đình tiếp tục áp dụng các biện pháp cải tiến và tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới.

5.2. Vai trò của chính quyền trong việc hỗ trợ nông dân

Chính quyền địa phương cần tiếp tục hỗ trợ các hộ gia đình trồng nhãn thông qua các chương trình đào tạo, hỗ trợ tài chính và kết nối thị trường để đảm bảo sự phát triển bền vững.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sản xuất nông nghiệp luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả các nước đã đạt đến trình độ phát triển cao, bởi là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế (Nguyễn Thiện,2014). Ở Việt Nam, đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp chính là tạo công ăn việc làm cho người dân, bên cạnh đó cũng góp phần vào nền tăng trưởng kinh tế. Theo nhiều nghiên cứu, đóng góp của ngành nông nghiệp trong việc tạo công ăn việc làm lớn hơn đóng góp của nó trong GDP Việt Nam. Cụ thể: năm 2020, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,61 triệu người, bao gồm 17,74 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 33,1% tổng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc.

Trong khi cơ cấu nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,85%, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Hồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên 21%) và Đồng bằng sông Cửu Long(Ban Tuyên Giáo Trung Ương,2021). Năm 2018, GDP của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76% mức cao nhất kể từ năm 2012. Sự chuyển đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp đã có hiệu quả. Theo công bố dữ liệu kinh tế xã hội năm 2018 của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam mở rộng với tỷ lệ 7,08% hàng năm, mức cao nhất kể từ năm 2008 đến nay.

Trong sự tăng trưởng kinh tế chung của nền kinh tế, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế (Tổng Cục Thống Kê, 2018). Như vậy, nhờ có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, ngành nông nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Bắt đầu từ năm 2019, khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, đã tác động mạnh mẽ không chỉ việc làm, thu nhập, đời sống của các cá nhân, hộ gia đình mà nhiều lĩnh vực sản xuất cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Theo Tổng cục Thống kê, 1 trong quý I/2021, dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến 9,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó 540 nghìn người bị mất việc và hàng triệu lao động phải tạm nghỉ, nghỉ giãn việc, giảm thu nhập (2,8 triệu người phải tạm nghỉ/tạm ngừng sản xuất kinh doanh; 3,1 triệu người cho biết họ bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên và 6,5 triệu lao động bị giảm thu nhập).

Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển so với cùng kỳ năm trước: năng suất lúa tăng cao, chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông sản đạt khá. Ngành nông nghiệp tăng 3,32%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,3%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 0,66%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm(Tổng Cục Thống Kê,2021b). Trong trồng trọt, nhãn là loại cây ăn quả có sự đầu tư tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa mang tính bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân, cho giá trị rất cao đã được hình thành tại nhiều khu vực trên cả nước như ở đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc. Sản lượng nhãn đạt 195,0 nghìn tấn, tăng 0,6%.

Ước tính diện tích trồng nhãn năm 2019 đạt 65 nghìn ha, sản lượng ước đạt 530 nghìn tấn. Sản phẩm cây ăn quả không những chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài chinh phục những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản,. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, các hộ gia đình trồng cây ăn quả nói chung, cây nhãn nói riêng cũng đang phải đối mặt với một số khó khăn. Cụ thể, theo thống kê của Bộ NN và PTNT, do thời tiết năm 2019 không thuận lợi khi nhãn ra hoa ở miền Bắc gặp mưa nhiều, tỷ lệ đậu quả thấp nên sản lượng giảm nhiều, ngoài ra còn dịch bệnh trên cây trồng cũng phát triển mạnh làm ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng.

2 Hưng Yên là tỉnh có thế mạnh về trồng cây ăn quả, đặc biệt là cây nhãn do có đặc điểm thuận lợi về khí hậu, địa hình Hưng Yên còn có hơn 80km sông Hồng và sông Luộc chạy qua, tạo nên dải phù sa thuận lợi về canh tác, thổ nhưỡng phù hợp với cây ăn trái và hoa cây cảnh. Những năm qua toàn tỉnh đã chuyển đổi gần 10 nghìn ha đất canh tác trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, hoa cây cảnh kết hợp chăn nuôi. Hiện nay, trên toàn tỉnh có 2 vùng sản xuất nhãn được cấp mã số xuất khẩu sang thị trường Mỹ là xã Hồng Nam (TP Hưng Yên) và xã Hàm Tử (huyện Khoái Châu). Đây là điều kiện thuận lợi để nhãn lồng Hưng Yên khẳng định và bảo vệ thương hiệu trên thị trường.

Nhờ trồng nhãn, nhiều hộ gia đình đã nâng cao được mức sống của hộ gia đình. Nhãn cho thu hoạch từ đầu tháng 7 cho đến giữa tháng 9, chủ yếu trà muộn là chính từ tháng đầu tháng 8 cho đến giữa tháng 9, giá bán từ 20.000đ/kg, giá trị thu được khoảng 350 triệu đồng/ha/năm (Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2019). Chính vì vậy, các hộ nghèo trên địa bàn giảm, đời sống của các hộ gia đình được cải thiện, đáp ứng được nhiều nhu cầu nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng cũng như giá thành của nông sản, Hưng Yên đạt 100% diện tích của vùng sản xuất tập trung từ 5 ha trở lên; đồng thời, thực hiện theo chuỗi đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn, có thương hiệu và được sản xuất, chứng nhận đáp ứng theo VietGAP.

Theo báo cáo của Sở Công Thương Hưng Yên, năm 2020 sản lượng nhãn đạt 50.000 tấn, tuy nhiên, đại dịch Covid-19 đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nói riêng trong đó các nhóm nông sản chủ lực của tỉnh cũng gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định và xuất khẩu sang các nước, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của các hộ gia đình trồng nhãn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đời sống của các hộ gia đình trồng nhãn dưới tác động của đại dịch Covid là một vấn đề cần thiết nhằm trả lời cho câu hỏi: Tác động của đại 3 dịch covid đến hoạt động trồng và tiêu thụ nhãn hiện nay của các hộ gia đình như thế nào? Tác động của đại dịch Covid đến đời sống của các hộ gia đình ra sao? Đề tài. “Tác động của Covid-19 đối với các hộ gia đình trồng nhãn”. (Nghiên cứu trường hợp tại xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) được thực hiện sẽ góp phần làm rõ câu hỏi đó.

Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung - Tìm hiểu tác động của Covid-19 đối với các hộ gia đình trồng nhãn tại xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu đặc điểm chung của hộ gia đình trồng nhãn được điều tra tại xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. - Tìm hiểu tác động của Covid-19 đến hoạt động trồng và tiêu thụ nhãn của các hộ gia đình tại xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Tìm hiểu tác động của Covid-19 đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình tại xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Tác động của dịch Covid-19 đối với các hộ gia đình trồng nhãn. Khách thể nghiên cứu - Các hộ gia đình trồng nhãn đã có quả thu hoạch bán ra thị trường.

Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với các gia đình trồng nhãn tại xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên - Phạm vi thời gian: + Thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2013 trở lại đây + Thông tin sơ cấp được thu thập từ tháng 12 / 2021 – 5 / 2022 - Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu đặc điểm của các hộ gia đình 4 trồng nhãn, hoàn cảnh kinh tế của hộ, các ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến hoạt động trồng và tiêu thụ nhãn của các hộ gia đình, bên cạnh đó còn tìm hiểu về thu nhập và chi tiêu của hộ đã bị ảnh hưởng như thế nào khi xẩy ra dịch bệnh, đồng thời tìm hiểu sự hỗ trợ của chính quyền địa phương đến việc tiêu thụ nhãn cho các hộ gia đình. Để từ đó có thể thấy được đời sống của các hộ gia đình trồng nhãn thay đổi như thế nào trước dịch bệnh và thời điểm dịch bệnh phức tạp hiện nay. 5 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2.

Lý thuyết AGIL của T. Parsons (1902 -1979) Talcott Parson (1902-1979) là nhà xã hội học người Mỹ, nổi tiếng với lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết hành động, có công lớn trong việc giới thiệu Weber với xã hội học Mỹ. Với tư cách là nhà khoa học tổ chức, sáng lập ra các “Khoa quan hệ xã hội” ở trường đại học tổng hợp Harvard năm 1946. Parson là tác giả có khoảng 270 ấn phẩm nghiên cứu trong đó có công trình xã hội học quan trọng như “Hệ thống xã hội” (1951) (Tiến tới một lý thuyết tổng quát về hành động” (1951).

Theo Parsons, xã hội là một kiểu hay loại hệ thống xã hội đáp ứng được tất cả các đòi hỏi chức năng cơ bản của một sự tồn tại lâu bền từ các nguồn lực bên trong của nó. Hệ thống xã hội là hệ thống của các quá trình tương tác giữa các tác nhân. Cấu trúc của hệ thống xã hội về cơ bản là cấu trúc của các mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia vào quá trình tương tác. Chức năng là vai trò, nhiệm vụ mà mỗi một thành phần của hệ thống xã hội phải thực hiện để đảm bảo cho cả hệ thống xã hội tồn tại, vận động và phát triển một cách phù hợp với môi trường xung quanh.

Parsons cho rằng hệ thống xã hội được cấu hình từ 4 tiểu hệ thống, tương ứng với các loại nhu cầu,chức năng cơ bản của hệ thống xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ