Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số: 934.01) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan, được thực hiện tại Trường Đại học Thương mại vào năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Thị Thu Giang và TS. Tạ Quang Bình, mang tiêu đề: "Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công bố thông tin (CBTT) tự nguyện là việc doanh nghiệp chủ động công bố các thông tin kế toán và phi kế toán nằm ngoài danh mục bắt buộc theo quy định của pháp luật, chế độ kế toán và quy định niêm yết. Việc gia tăng minh bạch thông tin giúp giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư, giảm chi phí đại diện và chi phí sử dụng vốn, đồng thời tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, các cơ quan quản lý đã ban hành nhiều chính sách nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về CBTT và quản trị công ty. Tuy nhiên, mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết vẫn còn hạn chế. Theo báo cáo tại Hội nghị Doanh nghiệp thường niên 2020 của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), điểm trung bình công bố thông tin mang tính thông lệ của các công ty đại chúng quy mô lớn chỉ đạt 33,75%. Đồng thời, chất lượng thông tin dự báo kết quả kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết còn thấp và có xu hướng quá lạc quan (Nguyễn Thị Thanh Loan và cộng sự, 2020).

Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam về mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế:

  • Kết quả thực nghiệm chưa có sự thống nhất giữa các tác giả (Nguyen, D., 2017 xác định mối quan hệ tích cực; Binh, Ta Quang, 2014 không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê đối với chi phí vốn và tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách).
  • Phần lớn các công trình chỉ tiếp cận đơn lẻ một khía cạnh của giá trị doanh nghiệp (hoặc chi phí vốn, hoặc năng lực cạnh tranh, hoặc hiệu quả hoạt động).
  • Phương pháp đo lường chi phí vốn chủ sở hữu chủ yếu dựa trên mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) hoặc tỷ suất sinh lời quá khứ – vốn là những phương pháp không phản ánh được vai trò của thông tin bất cân xứng hoặc dễ bị sai lệch do phán đoán chủ quan.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định và phân tích mức độ tác động của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính (CTPTC) niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị và giải pháp hoàn thiện hoạt động CBTT tự nguyện cho các doanh nghiệp niêm yết và công ty đại chúng.

Mục tiêu cụ thể bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về CBTT tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và các lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa hai yếu tố này; đánh giá thực trạng CBTT tự nguyện tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam theo ngành nghề và loại thông tin.
  2. Kiểm định mô hình thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp (thông qua chi phí vốn chủ sở hữu và giá trị thị trường) của các CTPTC niêm yết tại Việt Nam; đề xuất các giải pháp đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Các công trình nghiên cứu trước đã trình bày, luận giải về các lý thuyết chung về CBTT tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng hoạt động CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như thế nào?
  • Câu hỏi 3: CBTT tự nguyện có tác động đến giá trị doanh nghiệp tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào?
  • Câu hỏi 4: Các kiến nghị, giải pháp đối với các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung, kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Việt Nam nhằm hoàn thiện việc CBTT tự nguyện của các công ty này là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Các CTPTC niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trước ngày 31/12/2016 và duy trì niêm yết liên tục trong giai đoạn 2017–2020. Nhóm CTPTC chiếm hơn 80% tổng số công ty niêm yết trên thị trường. Luận án loại trừ các doanh nghiệp thuộc khối tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, bất động sản/dịch vụ tài chính) do có sự khác biệt căn bản về đặc thù hoạt động kinh doanh, cơ cấu báo cáo tài chính và các quy định CBTT bắt buộc.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 4 năm, từ năm 2017 đến năm 2020. Đây là giai đoạn các chính sách pháp lý về quản trị công ty và thông tư hướng dẫn CBTT trên TTCK ban hành trước đó đã đi vào thực thi ổn định.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung phân tích tác động tổng thể của chỉ số CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp (xét trên hai khía cạnh: chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định và giá trị thị trường), không phân tích sâu tác động riêng rẽ của từng loại thông tin thành phần đến giá trị doanh nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới được luận án phân loại theo các nhóm chủ đề chính:

1. Tác động của CBTT tự nguyện đến giá trị thị trường của doanh nghiệp:

  • Hassan và cộng sự (2009): Khảo sát 80 CTPTC niêm yết tại Ai Cập (1995–2002) bằng phương pháp Pooled GLS; kết quả cho thấy CBTT bắt buộc có quan hệ nghịch chiều đáng kể với giá trị doanh nghiệp, trong khi CBTT tự nguyện có quan hệ thuận chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê.
  • Uyar và Kilic (2012): Khảo sát 129 công ty sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010; ghi nhận CBTT tự nguyện tác động tích cực đến giá trị thị trường hiện tại và tương lai (6 tháng sau), nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (P/B).
  • Wang, Ali và Al-Akra (2013): Nghiên cứu 714 quan sát tại Trung Quốc (2005–2009) bằng phương pháp 2SLS; kết luận CBTT làm giảm giá trị doanh nghiệp do chi phí công bố vượt quá lợi ích nhận được, đặc biệt tại các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao.
  • Assidi (2020): Sử dụng phương pháp GMM trên mẫu 1.001 quan sát thuộc chỉ số SBF 120 (Pháp) giai đoạn 2006–2016; chứng minh CBTT tự nguyện tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp.
  • Charumathi và Ramesh (2020): Phân tích các công ty thuộc chỉ số BSE 100 (Ấn Độ) giai đoạn 2010–2014 bằng mô hình FEM; kết luận CBTT tự nguyện có quan hệ thuận chiều với Tobin's Q và P/B.
  • Clarkson và cộng sự (2013), Salvi và cộng sự (2020): Clarkson và cộng sự nghiên cứu 195 quan sát tại Mỹ, chứng minh CBTT môi trường tự nguyện nâng cao giá trị doanh nghiệp; Salvi và cộng sự khảo sát 114 công ty quốc tế năm 2018, chỉ ra CBTT trực tuyến về chuyển đổi số có tác động tích cực đến chỉ số Tobin's Q.

2. Tác động của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu:

  • Botosan (1997): Phân tích 122 doanh nghiệp sản xuất tại Mỹ (1990) dựa trên mô hình EBO; chỉ ra CBTT tự nguyện làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu ở các doanh nghiệp có ít nhà phân tích tài chính theo dõi.
  • Francis và cộng sự (2004, 2005): Nghiên cứu năm 2004 trên 677 doanh nghiệp Mỹ cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa CBTT và chi phí vốn biến mất khi kiểm soát chất lượng lợi nhuận; nghiên cứu năm 2005 trên 672 quan sát từ 34 quốc gia khẳng định CBTT tự nguyện làm giảm cả chi phí vốn vay và chi phí vốn chủ sở hữu.
  • Hail (2002): Khảo sát 73 CTPTC Thụy Sĩ (1998) bằng mô hình thu nhập thặng dư; kết quả các doanh nghiệp CBTT nhiều có chi phí vốn thấp hơn 1,4%.
  • Botosan và Plumlee (2000): Phân tích 3.620 quan sát tại Mỹ (1986–1996) với dữ liệu xếp hạng AIMR; phát hiện CBTT trên báo cáo thường niên làm giảm chi phí vốn, nhưng CBTT hàng quý lại có mối quan hệ thuận chiều với chi phí vốn.

3. Các lợi ích kinh tế khác:

  • Sengupta (1989): Chứng minh CBTT làm giảm chi phí vốn vay thông qua việc hạ thấp rủi ro ước tính của chủ nợ.
  • Plumlee và cộng sự (2010): Xác định CBTT môi trường tác động đồng thời đến dòng tiền kỳ vọng và chi phí vốn.
  • Wang, Choi và Li (2008), Lev và cộng sự (2010): Wang và cộng sự tìm thấy mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa hoạt động từ thiện và hiệu quả tài chính; Lev và cộng sự chỉ ra đóng góp từ thiện thúc đẩy tăng trưởng doanh thu trong các ngành hàng tiêu dùng.
  • Eccles, Ioannou và Serafeim (2012), Chen và cộng sự (2018): Eccles và cộng sự chứng minh doanh nghiệp phát triển bền vững đạt hiệu quả tài chính dài hạn cao hơn; Chen và cộng sự áp dụng phương pháp DID tại Trung Quốc (2008) cho thấy quy định bắt buộc CBTT trách nhiệm xã hội làm suy giảm khả năng sinh lời ngắn hạn của cổ đông.

Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế

Hướng tác động Kết quả thực nghiệm Các nghiên cứu tiêu biểu
Ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Không có mối quan hệ có ý nghĩa Hassan và cộng sự (2009)
Quan hệ thuận chiều Charumathi và Ramesh (2020); Assidi (2020); Al-Akra và Ali (2012); Saha và Kabra (2019); Salvi và cộng sự (2020)
Quan hệ nghịch chiều Wang và cộng sự (2013)
Không nhất quán tùy thước đo Uyar và Kilic (2012); Binh, T. (2012)
Ảnh hưởng đến chi phí vốn chủ sở hữu Không có mối quan hệ có ý nghĩa Francis và cộng sự (2004); Francis, Nanda và Olsson (2008)
Quan hệ thuận chiều Botosan và Plumlee (2000)
Quan hệ nghịch chiều Francis và cộng sự (2005); Hail (2002); Nguyen, D. (2012)

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Binh, Ta Quang (2014): Nghiên cứu 199 CTPTC niêm yết năm 2009; kết luận mức độ CBTT tự nguyện tổng thể không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với chi phí vốn bình quân (WACC) và P/B, chỉ có nhóm thông tin chung là có quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn ở mức ý nghĩa 95%.
  • Nguyen, D. (2017): Khảo sát 225 CTPTC trên HOSE năm 2015; áp dụng mô hình chiết khấu cổ tức dựa trên số liệu quá khứ, ghi nhận CBTT có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ sở hữu.
  • Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019): Đánh giá 294 công ty niêm yết trên HOSE (2014–2016) bằng mô hình CAPM; phương pháp SGMM cho thấy minh bạch thông tin làm giảm chi phí vốn ở mức ý nghĩa 10%, nhưng mô hình FEM không cho kết quả có ý nghĩa thống kê.
  • Nguyễn Văn Bảo (2020): Sử dụng phương pháp REM trên 145 doanh nghiệp xây dựng và bất động sản (2016–2018); chỉ ra CBTT tự nguyện tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh.
  • Tạ Thị Thúy Hằng (2019), Hồ Ngọc Thảo Trang và Yekini (2014): Tạ Thị Thúy Hằng nghiên cứu 43 công ty niêm yết (2006–2016) khẳng định CBTT trách nhiệm xã hội cải thiện ROA và Tobin's Q năm tiếp theo; Hồ Ngọc Thảo Trang và Yekini khảo sát 20 định chế tài chính (2010–2012) ghi nhận CBTT trách nhiệm xã hội tương quan thuận với ROA, ROE, ROS.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

  1. Tính bất nhất trong kết quả thực nghiệm: Chưa có sự đồng thuận về chiều hướng và mức độ tác động của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn và giá trị doanh nghiệp tại các thị trường mới nổi như Việt Nam.
  2. Thiếu tính hệ thống và toàn diện: Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận phân mảnh một chỉ tiêu đơn lẻ hoặc xem xét gián tiếp thông qua biến động thị trường. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích đồng thời tác động trực tiếp đến giá trị thị trường và tác động gián tiếp đến giá trị nội tại thông qua chi phí vốn chủ sở hữu.
  3. Hạn chế về phương pháp ước lượng chi phí vốn: Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu dùng mô hình CAPM hoặc dùng dữ liệu lịch sử để dự phóng dòng tiền. Luận án khắc phục hạn chế này bằng việc áp dụng kỹ thuật ước tính chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định dựa trên dữ liệu dự báo kết quả kinh doanh của các nhà phân tích tài chính độc lập (cơ sở dữ liệu I/B/E/S).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng 4 nhóm lý thuyết nền tảng trong tài chính - kế toán:

  • Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory): Doanh nghiệp gia tăng CBTT tự nguyện giúp thu hẹp khoảng cách thông tin giữa nhà quản lý và cổ đông bên ngoài, tăng tính thanh khoản của cổ phiếu và thu hút các nhà đầu tư lớn, từ đó làm giảm chi phí vốn (Diamond và Verrecchia, 1991).
  • Lý thuyết rủi ro ước tính (Estimation Risk Theory): Nhà đầu tư đối mặt với rủi ro không chắc chắn khi ước tính các tham số sinh lời của chứng khoán. Việc cung cấp thêm thông tin tự nguyện chất lượng cao làm giảm rủi ro ước tính không thể đa dạng hóa, giảm hệ số beta và chi phí sử dụng vốn (Barry và Brown, 1985; Coles và cộng sự, 1995).
  • Lý thuyết chi phí ủy nhiệm / chi phí liên quan (Agency Cost Theory): Hoạt động CBTT tự nguyện là cơ chế kiểm soát hữu hiệu giúp hạn chế hành vi trục lợi cá nhân của nhà quản lý, giảm thiểu chi phí giám sát của người ủy quyền (Jensen và Meckling, 1976).
  • Nhóm lý thuyết kinh tế chính trị và Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory): Doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động tốt chủ động CBTT tự nguyện chất lượng cao nhằm truyền tín hiệu tích cực ra thị trường, giúp thị trường định giá đúng giá trị nội tại và tạo lập lợi thế cạnh tranh.

Khái niệm và phân loại thông tin tự nguyện

  • Khái niệm CBTT tự nguyện: Theo nghĩa rộng trong luận án, CBTT tự nguyện là việc doanh nghiệp công bố rộng rãi các thông tin kế toán và phi kế toán không bắt buộc bởi luật định, hoặc có quy định nhưng hướng dẫn chưa cụ thể và không đi kèm chế tài xử phạt nghiêm ngặt.
  • Phân loại thông tin tự nguyện:
    • Theo nội dung: Gồm 5 nhóm chính: (1) Thông tin chiến lược và thông tin chung về doanh nghiệp; (2) Thông tin tài chính và thị trường vốn; (3) Thông tin quản trị doanh nghiệp; (4) Thông tin mang tính tương lai; (5) Thông tin về phát triển bền vững/trách nhiệm xã hội.
    • Theo hình thức thể hiện: Thông tin định lượng (dữ liệu cấu trúc, số liệu cứng) và thông tin định tính (dữ liệu phi cấu trúc, văn bản mô tả) (Chou và Chang, 2018).
    • Theo bản chất tín hiệu: Thông tin tốt, thông tin xấu, thông tin trung lập (Hutton và cộng sự, 2003; Plumlee và cộng sự, 2015).

Đo lường chất lượng CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp

  • Đo lường CBTT tự nguyện: Luận án sử dụng phương pháp chỉ số công bố thông tin (Disclosure Index). Tác giả xây dựng bộ tiêu chí mới gồm các khoản mục thông tin tự nguyện phù hợp với khuôn khổ pháp lý Việt Nam giai đoạn 2017–2020 và tập quán lập báo cáo của các CTPTC.
  • Đo lường chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định: Áp dụng các mô hình định giá dựa trên kế toán phát triển bởi Ohlson (1995), Feltham và Ohlson (1995) ($R_{EBO}$) và mô hình tăng trưởng tỷ số giá trên lợi nhuận của Easton (2004) ($R_{Easton}$), sử dụng dữ liệu dự báo kết quả kinh doanh của các chuyên viên phân tích.
  • Đo lường giá trị thị trường: Đo lường thông qua giá trị vốn hóa thị trường và các chỉ số định giá thị trường liên quan.

Nguồn dữ liệu và phương pháp phân tích

  • Nguồn dữ liệu:
    • Báo cáo thường niên (BCTN) của các CTPTC niêm yết trên HOSE và HNX (2017–2020) được thu thập thủ công từ cổng thông tin Stoxplus và website doanh nghiệp để chấm điểm chỉ số CBTT.
    • Dữ liệu dự báo lợi nhuận của các nhà phân tích tài chính trích xuất từ hệ thống I/B/E/S của Thomson Reuters.
    • Các chỉ tiêu tài chính (tổng tài sản, tổng nợ phải trả, EPS, giá trị sổ sách cổ phần BVPS, giá đóng cửa điều chỉnh...) cung cấp bởi FiinGroup.
  • Phương pháp phân tích:
    • Thống kê mô tả, kiểm định T-test so sánh giá trị trung bình giữa các phân nhóm mẫu.
    • Phân tích hệ số tương quan tuyến tính.
    • Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares - OLS) xử lý cấu trúc dữ liệu bảng không cân (unbalanced panel data), thực hiện trên phần mềm kinh tế lượng STATA kết hợp các kiểm định khuyết tật mô hình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp. Tác giả phân loại bức tranh nghiên cứu thực nghiệm thế giới thành ba luồng chính: tác động của CBTT tự nguyện đến giá trị thị trường, tác động đến chi phí vốn chủ sở hữu, và tác động đến các lợi ích kinh tế khác (chi phí vốn vay, dòng tiền tương lai, doanh thu và phát triển bền vững). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại các công trình của Binh, Ta Quang (2014), Nguyen, D. (2017), Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019), Nguyễn Văn Bảo (2020), Tạ Thị Thúy Hằng (2019). Từ đó, chương 1 xác định 3 khoảng trống nghiên cứu trọng tâm về lý luận, phạm vi đánh giá và phương pháp ước lượng chi phí vốn ngầm định mà luận án cần giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận về công bố thông tin tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp

Chương 2 làm rõ các khái niệm cốt lõi: công bố thông tin ra công chúng (theo chuẩn mực IMF, Luật Chứng khoán 2019, Nguyễn Thùy Dương, Gibbins và cộng sự), định nghĩa CBTT tự nguyện theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Tác giả phân tích chi tiết 5 nhóm nội dung thông tin tự nguyện, 3 phương pháp đo lường chất lượng CBTT (chỉ số công bố, phân tích nội dung, khảo sát). Về giá trị doanh nghiệp, chương 2 phân định rõ giá trị nội tại (tiếp cận theo mô hình thu nhập thặng dư EBO, mô hình chiết khấu cổ tức/dòng tiền) và giá trị thị trường. Đồng thời, chương này luận giải sâu sắc 4 nền tảng lý thuyết giải thích cơ chế tác động: lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết rủi ro ước tính, lý thuyết chi phí ủy nhiệm và nhóm lý thuyết kinh tế chính trị/tín hiệu.

Chương 3: Quy trình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu khoa học gồm các bước: xây dựng giả thuyết nghiên cứu, thiết kế mô hình kinh tế lượng, định nghĩa và đo lường các biến số, thu thập dữ liệu và kỹ thuật phân tích. Tác giả xây dựng 2 mô hình hồi quy OLS chính:

  • Mô hình 1: Phân tích ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu ($R_{Easton}$ và $R_{EBO}$) cùng các biến kiểm soát quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, hệ số beta, tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách.
  • Mô hình 2: Phân tích ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị thị trường của doanh nghiệp, có tính đến yếu tố lợi nhuận bất thường được ước tính từ các mô hình định giá. Chương này cũng mô tả chi tiết quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ FiinGroup, Thomson Reuters I/B/E/S và BCTN của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE/HNX giai đoạn 2017–2020.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 4 trình bày bối cảnh TTCK Việt Nam, các quy định niêm yết theo Nghị định 58/2012/NĐ-CP và cơ cấu phân ngành CTPTC tính đến 31/12/2020. Tác giả công bố các kết quả thực nghiệm nổi bật:

  • Thực trạng CBTT tự nguyện giai đoạn 2017–2020: Điểm số CBTT tự nguyện bình quân của các CTPTC niêm yết còn ở mức thấp. Có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm thông tin: nhóm thông tin chiến lược và thông tin chung có mức độ công bố cao nhất; ngược lại, nhóm thông tin mang tính tương lai (dự báo doanh thu, lợi nhuận chi tiết) và thông tin phát triển bền vững/xã hội có tỷ lệ công bố rất thấp. Kiểm định T-test cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ CBTT giữa các ngành kinh tế.
  • Kết quả hồi quy tác động đến chi phí vốn chủ sở hữu: Kết quả OLS (với cả hai biến phụ thuộc $R_{Easton}$ và $R_{EBO}$) chứng minh chỉ số CBTT tự nguyện có mối quan hệ nghịch chiều có ý nghĩa thống kê với chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
  • Kết quả hồi quy tác động đến giá trị thị trường: CBTT tự nguyện thể hiện mối quan hệ thuận chiều có ý nghĩa thống kê với giá trị thị trường của doanh nghiệp.

Chương 5: Các kết luận, một số khuyến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung

Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả thực nghiệm, khẳng định lợi ích kinh tế rõ ràng của việc nâng cao tính minh bạch thông tin. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống khuyến nghị:

  • Đối với CTPTC niêm yết và công ty đại chúng: Thay đổi nhận thức quản trị, chủ động xây dựng chính sách CBTT tự nguyện chiến lược; cải thiện chất lượng thông tin dự báo tương lai và báo cáo phát triển bền vững; chuẩn hóa việc lập BCTN theo các thông lệ quốc tế tốt.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, các SGDCK): Hoàn thiện khung khổ pháp lý về CBTT và quản trị công ty; ban hành sổ tay hướng dẫn chi tiết các tiêu chí CBTT phi tài chính và thông tin dự báo; tăng cường công tác giám sát, chế tài xử phạt vi phạm; duy trì và nâng cao chất lượng các cuộc bình chọn BCTN.
  • Tác giả cũng chỉ rõ các hạn chế nghiên cứu và gợi ý các hướng phát triển đề tài trong tương lai.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu trong nước hệ thống hóa đầy đủ khung lý thuyết về CBTT tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và các lý thuyết kinh tế giải thích mối liên kết tương hỗ giữa hai phạm trù này (lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết rủi ro ước tính, lý thuyết chi phí ủy nhiệm và lý thuyết tín hiệu).
  2. Xây dựng lại danh mục tiêu chí đánh giá CBTT tự nguyện mới, được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn môi trường kinh doanh và các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2017–2020.
  3. Luận án là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam ứng dụng phương pháp ước lượng chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định dựa trên số liệu dự báo kết quả kinh doanh của các nhà phân tích tài chính độc lập (từ I/B/E/S), giúp phản ánh chân thực vai trò của thông tin và khắc phục những hạn chế cố hữu của mô hình CAPM truyền thống.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng định lượng chi tiết về mức độ CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2017–2020 theo từng phân ngành và từng nhóm thông tin, chỉ ra các khoảng trống thiếu hụt lớn ở nhóm thông tin tương lai và phát triển bền vững.
  2. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định CBTT tự nguyện mang lại lợi ích kinh tế kép tại một thị trường cận biên/mới nổi: vừa làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu (tác động gián tiếp làm tăng giá trị nội tại), vừa làm gia tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị có tính khả thi cho các nhà quản trị doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa chi phí vốn và giá trị vốn hóa, đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn để cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện chính sách thúc đẩy minh bạch hóa TTCK Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Luận án mới chỉ dừng lại ở việc xem xét tác động tổng hợp của chỉ số CBTT tự nguyện tổng thể đến giá trị doanh nghiệp, chưa đi sâu phân tích định lượng tác động độc lập của từng cấu phần thông tin riêng biệt (như thông tin chiến lược, thông tin tương lai hay thông tin phát triển bền vững) tới giá trị doanh nghiệp.
  • Mẫu dữ liệu dự báo: Việc ước lượng chi phí vốn ngầm định phụ thuộc vào cơ sở dữ liệu I/B/E/S của Thomson Reuters, nơi chỉ theo dõi những doanh nghiệp niêm yết nhận được sự quan tâm của các chuyên viên phân tích tài chính, dẫn đến việc dữ liệu mẫu có thể chưa bao quát toàn bộ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ trên thị trường.
  • Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu giới hạn trong nhóm CTPTC niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2017–2020, chưa mở rộng sang nhóm định chế tài chính hoặc các doanh nghiệp giao dịch trên sàn UPCOM.

Hướng nghiên cứu trong tương lai

  • Mở rộng phân tích định lượng chi tiết về ảnh hưởng của từng loại thông tin tự nguyện thành phần (đặc biệt là thông tin phi tài chính, ESG, báo cáo phát triển bền vững và thông tin chuyển đổi số) đến các chỉ tiêu giá trị doanh nghiệp.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên sàn UPCOM và khối doanh nghiệp tài chính - ngân hàng khi có hệ thống tiêu chí đo lường chuyên biệt.
  • Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá sự biến chuyển của hành vi CBTT dưới tác động của các văn bản pháp luật mới ban hành.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Tài chính: Tham khảo khung lý thuyết hệ thống về thông tin bất cân xứng và chi phí vốn, phương pháp xây dựng chỉ số công bố thông tin (Disclosure Index), cùng kỹ thuật ước tính chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định ($R_{Easton}$ và $R_{EBO}$) dựa trên cơ sở dữ liệu I/B/E/S.
  • Nhà quản trị và bộ phận quan hệ nhà đầu tư (IR) tại các công ty niêm yết: Nhận thức rõ lợi ích kinh tế của việc minh bạch hóa thông tin, từ đó chủ động cải thiện cấu trúc và nội dung báo cáo thường niên, tăng cường công bố thông tin mang tính tương lai và phát triển bền vững để giảm thiểu chi phí huy động vốn.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, các Sở Giao dịch Chứng khoán): Sử dụng các số liệu thực trạng làm căn cứ điều chỉnh quy định pháp lý, ban hành hướng dẫn kỹ thuật CBTT và thiết kế các chương trình giám sát, khuyến khích doanh nghiệp minh bạch hóa thông tin.
  • Chuyên viên phân tích tài chính và nhà đầu tư: Có thêm công cụ đánh giá mức độ tin cậy và chất lượng thông tin của các doanh nghiệp niêm yết phục vụ cho quá trình định giá chứng khoán.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án loại trừ các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm ra khỏi mẫu nghiên cứu?
Các công ty tài chính có đối tượng kinh doanh đặc biệt (tiền tệ, chứng khoán, dịch vụ tài chính) và cơ cấu bảng cân đối kế toán khác biệt hoàn toàn so với công ty phi tài chính. Hơn nữa, các quy định pháp lý về chế độ kế toán và nghĩa vụ CBTT bắt buộc của khối tài chính có tính đặc thù riêng, do đó việc tách riêng nhóm CTPTC nhằm đảm bảo tính đồng nhất của mẫu và độ chính xác của chỉ số CBTT.

2. Ưu điểm của phương pháp ước lượng chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định so với mô hình CAPM trong luận án là gì?
Mô hình CAPM giả định thị trường hoàn hảo và mọi thông tin đã phản ánh tức thì vào giá, do đó không phản ánh được tác động của tính bất cân xứng thông tin. Trong khi đó, phương pháp ước tính chi phí vốn ngầm định (Easton, 2004; Ohlson, 1995) dựa trên dự báo kết quả kinh doanh của các nhà phân tích độc lập, khắc phục được sự phụ thuộc vào dữ liệu quá khứ và phản ánh chính xác kỳ vọng tương lai của thị trường đối với vai trò của thông tin.

3. Mức độ CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2017–2020 thể hiện thực trạng như thế nào?
Mức độ CBTT tự nguyện bình quân của các CTPTC niêm yết vẫn còn ở mức thấp. Các doanh nghiệp chủ yếu công bố tốt nhóm thông tin chiến lược và thông tin chung; trong khi đó, các thông tin mang tính tương lai (kế hoạch chi tiết, dự báo kết quả) và thông tin về môi trường, phát triển bền vững đạt tỷ lệ công bố rất hạn chế.

4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án khẳng định điều gì về mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp?
Luận án chỉ ra rằng mức độ CBTT tự nguyện có tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê tới chi phí vốn chủ sở hữu (giúp giảm chi phí vốn, gián tiếp nâng cao giá trị nội tại) và có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới giá trị thị trường của các CTPTC niêm yết tại Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Loan đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2017–2020. Nghiên cứu khẳng định việc gia tăng CBTT tự nguyện giúp doanh nghiệp hạ thấp chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định và nâng cao giá trị vốn hóa thị trường. Các kết luận và hàm ý chính sách trong luận án là cơ sở khoa học giúp các doanh nghiệp đại chúng cải thiện tính minh bạch thông tin và hỗ trợ các cơ quan quản lý hoàn thiện thể chế thị trường vốn tại Việt Nam.