CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghiệp nói chung "Hassan và các cộng sự (2009) xem xét ảnh hưởng của CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện được thực hiện trên mẫu gồm 80 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Ai cập trong giai đoạn"1995-2002."Sở dĩ các tác giả xem xét mức độ CBTT bắt buộc là do việc không tuân thủ quy định về CBTT của các công ty niêm yết Ai cập"là rất phổ biến."Sử dụng phương pháp pooled generalized least squares (GLS) với sai số chuẩn có điều chỉnh, kết quả nghiên cứu trái ngược với dự báo của phần lớn lí thuyết"tài chính. Sau khi kiểm soát các yếu tố quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng, ngành kinh tế, kết quả cho thấy tồn tại một mối quan hệ nghịch chiều đáng kể giữa CBTT bắt buộc với giá trị doanh nghiệp, trong khi đó CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều nhưng không đáng kể với giá trị doanh nghiệp. Các tác giả lý giải điều này là do mối quan hệ giữa CBTT với giá trị doanh nghiệp là mối quan hệ phức tạp, và ở Ai Cập, chi phí của việc CBTT cao hơn so với những lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp. Dựa trên lý thuyết tín hiệu, Uyar và Kilic (2012) xem xét ảnh hưởng của việc CBTT tự nguyện tới giá trị thị trường của doanh nghiệp, với mẫu nghiên cứu là 129 công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010.
Giá trị doanh nghiệp được các tác giả đo lường qua 4 biến: giá trị thị trường của cổ phiếu ở thời điểm cuối năm và 6 tháng sau, logarit tự nhiên của chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu ở thời điểm cuối năm và sáu tháng sau. Kết quả thu được là không đồng nhất, mức độ CBTT tự nguyện có tác động tích cực đáng kể đến giá trị thị trường hiện tại và tương lai của doanh nghiệp nhưng không ảnh 10 hưởng đáng kể đến chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu. Wang, Ali và Al-Akra (2013) trong bài nghiên cứu với tiêu đề “Value relevance of voluntary disclosure and the global financial crisis: evidence from China”, tạm dịch là “sự phù hợp của CBTT tự nguyện và khủng hoàng tài chính toàn cầu: bằng chứng từ Trung Quốc”, đã tìm hiểu tác động điều tiết của khủng hoảng tài chính toàn câu đến mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp. Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn (2SLS) với mẫu nghiên cứu là 714 quan sát của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến trong giai đoạn 2005-2009.
Kết quả hồi quy cho thấy việc CBTT không những không tạo ra giá trị cho các công ty Trung Quốc mà còn làm giảm giá trị của những doanh nghiệp CBTT ở trong cả thời điểm khủng hoảng tài chính và không khủng hoảng. Mối quan hệ này càng mạnh ở các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao. Các tác giả lý giải rằng, điều này là do các chi phí của việc CBTT cao hơn lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp. Assidi (2020) xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện và quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh có sự thay đổi về mặt pháp lý ở Pháp.
Dựa trên dữ liệu 1001 quan sát là các CTNY Pháp thuộc danh mục SBF 120 từ 2006 đến 2016, bằng phương pháp GMM, tác giả đã chỉ ra rằng CBTT tự nguyện có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp. Hơn nữa, thay đổi về mặt pháp lý làm gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng hệ thống quản trị doanh nghiệp. Charumathi và Ramesh (2020) nghiên cứu tác động của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp sử dụng mẫu nghiên cứu là các CTNY Ấn Độ thuộc danh mục chỉ số BSE 100 trong giai đoạn 5 năm từ 2010-2014. Kết quả hồi quy FEM cho thấy CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều với giá trị doanh nghiệp, được đo lường bằng chỉ số TobinQ, chỉ số giá thị trường/giá trị sổ sách (P/B ratio) và giá trị doanh nghiệp.
Song khi xem xét ảnh hưởng của từng loại thông tin tên giá trị doanh nghiệp kết quả thu được rất khác nhau. Chỉ có thông tin chung và thông tin chiến 11 lược có tác động tích cực đến chỉ số TobinQ ở mức ý nghĩa 90%, trong khi đó thông tin PTBV có tác động tiêu cực đến chỉ số TobinQ ở mức 95%. Trong khi đó các loại thông tin khác không có tác động đáng kể đến giá trị doanh nghiệp. Khác với các nghiên cứu trên, chỉ tập trung vào CBTT môi trường tự nguyện, Clarkson và cộng sự (2013) tìm thấy bằng chứng chứng minh tác động tích cực của CBTT môi trường tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp ngay cả khi đã kiểm soát hiệu quả thực thi môi trường.
Các tác giả lí giải mối quan hệ này dựa trên lý thuyết tín hiệu được đề cập tới trong nghiên cứu của Clarkson và cộng sự (2008). Cụ thể là, các doanh nghiệp thực thi môi trường tốt sẽ không phải gánh chịu những nghĩa vụ môi trường tiềm tàng trong tương lai và được hưởng các lợi thế cạnh tranh do việc cải tiến quy trình SXKD và khác biệt hoá sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí kinh doanh và có được lợi thế thương mại xanh. Nhà đầu tư không thể phân loại được doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không CBTT môi trường tự nguyện. Do đó, việc CBTT môi trường tự nguyện của doanh nghiệp sẽ gửi tín hiệu phù hợp, giúp thị trường đánh giá đúng giá trị của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và được thực hiện trên mẫu gồm 195 quan sát của các công ty đại chúng Mỹ thuộc 5 ngành kinh tế gây ô nhiễm môi trường trong 2 năm 2003 và 2006. Vận dụng lý thuyết tín hiệu để giải thích ảnh hưởng của CBTT online về quá trình chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp, Salvi và cộng sự (2020) đã chứng minh tác động tích cực của CBTT online về quá trình chuyển đổi số đến giá trị của doanh nghiệp được đo lường bằng chỉ số TobinQ. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và được thực hiện trên mẫu gồm 114 công ty niêm yết ở nhiều quốc gia trong năm 2018.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu Mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thường được lý giải thông qua lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết 12 rủi ro ước tính. Diamond và Verrecchia (1991) nói rằng CBTT làm giảm thông tin bất cân xứng từ đó làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu, tăng nhu cầu của các nhà đầu tư lớn từ đó làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu.
Bên cạnh đó, trước khi ra quyết định đầu tư, những nhà đầu tư khôn ngoan (rational investor) cần phải xem xét lợi suất kỳ vọng thu được từ tài sản và rủi ro đầu tư liên quan. Rủi ro đầu tư đó bao gồm cả rủi ro thông tin không chắc chắn (hay còn gọi là rủi ro ước tính). Việc cải thiện mức độ CBTT có thể làm giảm rủi ro ước tính không thể đa dạng hóa của nhà đầu tư, giảm beta từ đó làm giảm chi phí vốn của doanh nghiệp (Barry và Brown, 1985; Coles và cộng sự, 1995). Căn cứ trên 2 lý thuyết trên, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành ở các quốc gia để xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp.
Một số những nghiên cứu nổi bật về chủ đề này là: Sử dụng mẫu nghiên cứu là 122 doanh nghiệp sản xuất năm 1990, kết quả hồi quy OLS của Botosan (1997) cho thấy mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp không có tác động đáng kể đến chi phí vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, khi phân tích thêm, tác giả thấy rằng với những doanh nghiệp có ít nhà phân tích theo dõi, CBTT làm giảm chi phí vốn chủ của doanh nghiệp, trong khi ảnh hưởng này đối với nhóm doanh nghiệp có nhiều nhà phân tích theo dõi là không đáng kể. Trong nghiên cứu này Botosan (1997) sử dụng phương pháp chỉ số công bố để đo lường mức độ CBTT tự nguyện, sau đó sử dụng thông tin này để tính toán tỷ lệ thứ hạng CBTT tự nguyện của doanh nghiệp. Để đo lường chi phí vốn chủ sở hữu Botosan sử dụng mô hình định giá dựa trên kế toán phát triển bởi Edwards và Bell (1961), Ohlson (1995) và Feltham và Ohlson (1995) (mô hình định giá EBO).
13 Francis và cộng sự (2004) lại xem xét mối quan hệ phức tạp giữa chất lượng lợi nhuận, CBTT tự nguyện và chi phí vốn của doanh nghiệp. CBTT tự nguyện được đo lường theo phương pháp chỉ số công bố dựa trên báo cáo thường niên và mẫu 10-K của 677 doanh nghiệp Mỹ trong năm 2001. Chi phí vốn chủ sở hữu được ước tính dựa trên dữ liệu dự báo của các nhà phân tích về giá mục tiêu, cổ tức và tỷ lệ tăng cổ tức do Value Line cung cấp. Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS cho thấy, doanh nghiệp có chất lượng lợi nhuận tốt thì CBTT tự nguyện nhiều và ngược lại.
Khi không xét đến chất lượng lợi nhuận thì CBTT có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ sở hữu, nhưng khi bổ xung biến chất lượng lợi nhuận thì tác động tích cực của CBTT đến chi phí vốn chủ sở hữu giảm đáng kể hoặc biến mất (tùy vào thước đo chi phí vốn). Francis và các cộng sự (2004) lí giải sở dĩ có điều này là do chất lượng lợi nhuận (thông tin) vừa có tác động lên CBTT tự nguyện, vừa có tác động đến chi phí vốn chủ sở hữu, do đó nếu bỏ qua biến này kết quả không còn chính xác. Không chỉ giới hạn phạm vi ở một quốc gia như những nghiên cứu trước, nghiên cứu của Francis và cộng sự (2005) sử dụng mẫu gồm 672 quan sát doanh nghiệp – năm của 484 doanh nghiệp ngành sản xuất từ 34 quốc gia trong thời gian 2 năm 1993 và 1995.