Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Nghiên cứu tác động của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

179
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới

1.1.1. Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghiệp nói chung

1.1.2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu

1.1.3. Các nghiên cứu về các lợi ích khác của công bố thông tin tự nguyện với doanh nghiệp

1.2. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN, GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

2.1. Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện

2.1.1. Khái niệm về công bố thông tin ra công chúng

2.1.2. Khái niệm công bố thông tin tự nguyện

2.1.3. Phân loại thông tin tự nguyện

2.1.4. Các phương pháp đo lường chất lượng công bố thông tin tự nguyện

2.2. Những vấn đề chung về doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp

2.2.1. Khái niệm doanh nghiệp

2.2.2. Khái niệm giá trị doanh nghiệp

2.2.3. Các cách tiếp cận và một số phương pháp xác định giá trị nội tại của doanh nghiệp

2.3. Những vấn đề chung về chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

2.3.1. Khái niệm chi phí vốn chủ sở hữu

2.3.2. Các cách tiếp cận nhằm ước tính chi phí vốn chủ sở hữu

2.4. Các lý thuyết giải thích ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp

2.4.1. Lý thuyết thông tin bất cân xứng

2.4.2. Lý thuyết rủi ro ước tính

2.4.3. Lý thuyết chi phí liên quan

2.4.4. Nhóm lý thuyết kinh tế chính trị

3. CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

3.2.1. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

3.2.2. Xây dựng mô hình hồi quy

3.2.3. Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu

3.2.4. Thu thập dữ liệu nghiên cứu

3.2.5. Phương pháp phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

4.1. Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam và các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.1.1. Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam

4.1.2. Giới thiệu về các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.2. Thực trạng công bố thông tin tự nguyện tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020

4.2.1. Thực trạng công bố thông tin tự nguyện nói chung tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2017-2020

4.2.2. Thực trạng công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo loại thông tin

4.2.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.2.3.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến
4.2.3.2. Kết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết

4.2.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị thị trường của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.2.4.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến
4.2.4.2. Kết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết

5. CHƯƠNG 5: CÁC KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NÓI RIÊNG VÀ CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM NÓI CHUNG

5.1. Các kết luận rút ra từ nghiên cứu

5.1.1. Thực trạng công bố thông tin tự nguyện tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.1.2. Ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.2. Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung

5.2.1. Các khuyến nghị và giải pháp đối với các công ty phi tài chính niêm yết nói riêng và công ty đại chúng nói chung

5.2.2. Các khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước

5.2.3. Một số hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính

Công bố thông tin tự nguyện là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao giá trị doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam. Việc công bố thông tin này không chỉ giúp doanh nghiệp tạo dựng niềm tin với nhà đầu tư mà còn giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan (2022), công bố thông tin tự nguyện có thể làm giảm chi phí vốn và tăng giá trị doanh nghiệp. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc minh bạch thông tin trong môi trường kinh doanh hiện đại.

1.1. Khái niệm công bố thông tin tự nguyện và giá trị doanh nghiệp

Công bố thông tin tự nguyện là hành động mà doanh nghiệp chủ động cung cấp thông tin cho công chúng, không bị ràng buộc bởi quy định pháp luật. Giá trị doanh nghiệp phi tài chính được xác định qua nhiều yếu tố, trong đó có sự minh bạch trong công bố thông tin.

1.2. Tại sao công bố thông tin tự nguyện quan trọng

Công bố thông tin tự nguyện giúp doanh nghiệp xây dựng lòng tin với các bên liên quan, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn và phát triển bền vững.

II. Những thách thức trong công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam

Mặc dù công bố thông tin tự nguyện mang lại nhiều lợi ích, nhưng thực tế tại Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức. Chất lượng và số lượng thông tin công bố còn thấp, điều này ảnh hưởng đến sự tin tưởng của nhà đầu tư. Theo báo cáo của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, điểm trung bình công bố thông tin của các công ty niêm yết chỉ đạt 33,75%. Điều này cho thấy cần có những biện pháp cải thiện chất lượng công bố thông tin.

2.1. Thực trạng công bố thông tin tự nguyện

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc công bố thông tin tự nguyện, dẫn đến việc công bố thông tin không đầy đủ và kịp thời.

2.2. Nguyên nhân của những thách thức

Một số nguyên nhân chính bao gồm sự thiếu hiểu biết của các nhà quản lý về tầm quan trọng của công bố thông tin và áp lực từ các quy định pháp lý chưa đủ mạnh.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng công bố thông tin tự nguyện

Để cải thiện chất lượng công bố thông tin tự nguyện, doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc đào tạo nhân viên về tầm quan trọng của công bố thông tin và xây dựng quy trình công bố rõ ràng là rất cần thiết. Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ thông tin để công bố thông tin cũng giúp tăng cường tính minh bạch.

3.1. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo nhân viên về công bố thông tin tự nguyện giúp họ hiểu rõ hơn về lợi ích và trách nhiệm của việc này.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin

Sử dụng các nền tảng trực tuyến để công bố thông tin giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả hơn với nhà đầu tư.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của công bố thông tin tự nguyện

Nghiên cứu cho thấy rằng công bố thông tin tự nguyện có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính. Các công ty thực hiện công bố thông tin minh bạch thường có chi phí vốn thấp hơn và thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của công bố thông tin trong việc nâng cao giá trị doanh nghiệp.

4.1. Phân tích dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu từ các công ty niêm yết cho thấy mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện và giá trị doanh nghiệp là rõ ràng.

4.2. Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các công ty có mức độ công bố thông tin cao thường có giá trị thị trường cao hơn.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao giá trị doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tiếp tục cải thiện chất lượng công bố thông tin. Các cơ quan quản lý cũng cần có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin minh bạch hơn.

5.1. Tầm quan trọng của công bố thông tin trong tương lai

Công bố thông tin tự nguyện sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng phát triển.

5.2. Đề xuất chính sách khuyến khích

Các cơ quan quản lý cần xây dựng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin tự nguyện một cách hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghiệp nói chung "Hassan và các cộng sự (2009) xem xét ảnh hưởng của CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện được thực hiện trên mẫu gồm 80 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Ai cập trong giai đoạn"1995-2002."Sở dĩ các tác giả xem xét mức độ CBTT bắt buộc là do việc không tuân thủ quy định về CBTT của các công ty niêm yết Ai cập"là rất phổ biến."Sử dụng phương pháp pooled generalized least squares (GLS) với sai số chuẩn có điều chỉnh, kết quả nghiên cứu trái ngược với dự báo của phần lớn lí thuyết"tài chính. Sau khi kiểm soát các yếu tố quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng, ngành kinh tế, kết quả cho thấy tồn tại một mối quan hệ nghịch chiều đáng kể giữa CBTT bắt buộc với giá trị doanh nghiệp, trong khi đó CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều nhưng không đáng kể với giá trị doanh nghiệp. Các tác giả lý giải điều này là do mối quan hệ giữa CBTT với giá trị doanh nghiệp là mối quan hệ phức tạp, và ở Ai Cập, chi phí của việc CBTT cao hơn so với những lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp. Dựa trên lý thuyết tín hiệu, Uyar và Kilic (2012) xem xét ảnh hưởng của việc CBTT tự nguyện tới giá trị thị trường của doanh nghiệp, với mẫu nghiên cứu là 129 công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010.

Giá trị doanh nghiệp được các tác giả đo lường qua 4 biến: giá trị thị trường của cổ phiếu ở thời điểm cuối năm và 6 tháng sau, logarit tự nhiên của chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu ở thời điểm cuối năm và sáu tháng sau. Kết quả thu được là không đồng nhất, mức độ CBTT tự nguyện có tác động tích cực đáng kể đến giá trị thị trường hiện tại và tương lai của doanh nghiệp nhưng không ảnh 10 hưởng đáng kể đến chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu. Wang, Ali và Al-Akra (2013) trong bài nghiên cứu với tiêu đề “Value relevance of voluntary disclosure and the global financial crisis: evidence from China”, tạm dịch là “sự phù hợp của CBTT tự nguyện và khủng hoàng tài chính toàn cầu: bằng chứng từ Trung Quốc”, đã tìm hiểu tác động điều tiết của khủng hoảng tài chính toàn câu đến mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp. Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn (2SLS) với mẫu nghiên cứu là 714 quan sát của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến trong giai đoạn 2005-2009.

Kết quả hồi quy cho thấy việc CBTT không những không tạo ra giá trị cho các công ty Trung Quốc mà còn làm giảm giá trị của những doanh nghiệp CBTT ở trong cả thời điểm khủng hoảng tài chính và không khủng hoảng. Mối quan hệ này càng mạnh ở các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao. Các tác giả lý giải rằng, điều này là do các chi phí của việc CBTT cao hơn lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp. Assidi (2020) xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện và quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh có sự thay đổi về mặt pháp lý ở Pháp.

Dựa trên dữ liệu 1001 quan sát là các CTNY Pháp thuộc danh mục SBF 120 từ 2006 đến 2016, bằng phương pháp GMM, tác giả đã chỉ ra rằng CBTT tự nguyện có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp. Hơn nữa, thay đổi về mặt pháp lý làm gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng hệ thống quản trị doanh nghiệp. Charumathi và Ramesh (2020) nghiên cứu tác động của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp sử dụng mẫu nghiên cứu là các CTNY Ấn Độ thuộc danh mục chỉ số BSE 100 trong giai đoạn 5 năm từ 2010-2014. Kết quả hồi quy FEM cho thấy CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều với giá trị doanh nghiệp, được đo lường bằng chỉ số TobinQ, chỉ số giá thị trường/giá trị sổ sách (P/B ratio) và giá trị doanh nghiệp.

Song khi xem xét ảnh hưởng của từng loại thông tin tên giá trị doanh nghiệp kết quả thu được rất khác nhau. Chỉ có thông tin chung và thông tin chiến 11 lược có tác động tích cực đến chỉ số TobinQ ở mức ý nghĩa 90%, trong khi đó thông tin PTBV có tác động tiêu cực đến chỉ số TobinQ ở mức 95%. Trong khi đó các loại thông tin khác không có tác động đáng kể đến giá trị doanh nghiệp. Khác với các nghiên cứu trên, chỉ tập trung vào CBTT môi trường tự nguyện, Clarkson và cộng sự (2013) tìm thấy bằng chứng chứng minh tác động tích cực của CBTT môi trường tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp ngay cả khi đã kiểm soát hiệu quả thực thi môi trường.

Các tác giả lí giải mối quan hệ này dựa trên lý thuyết tín hiệu được đề cập tới trong nghiên cứu của Clarkson và cộng sự (2008). Cụ thể là, các doanh nghiệp thực thi môi trường tốt sẽ không phải gánh chịu những nghĩa vụ môi trường tiềm tàng trong tương lai và được hưởng các lợi thế cạnh tranh do việc cải tiến quy trình SXKD và khác biệt hoá sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí kinh doanh và có được lợi thế thương mại xanh. Nhà đầu tư không thể phân loại được doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không CBTT môi trường tự nguyện. Do đó, việc CBTT môi trường tự nguyện của doanh nghiệp sẽ gửi tín hiệu phù hợp, giúp thị trường đánh giá đúng giá trị của doanh nghiệp.

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và được thực hiện trên mẫu gồm 195 quan sát của các công ty đại chúng Mỹ thuộc 5 ngành kinh tế gây ô nhiễm môi trường trong 2 năm 2003 và 2006. Vận dụng lý thuyết tín hiệu để giải thích ảnh hưởng của CBTT online về quá trình chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp, Salvi và cộng sự (2020) đã chứng minh tác động tích cực của CBTT online về quá trình chuyển đổi số đến giá trị của doanh nghiệp được đo lường bằng chỉ số TobinQ. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và được thực hiện trên mẫu gồm 114 công ty niêm yết ở nhiều quốc gia trong năm 2018.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu Mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thường được lý giải thông qua lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết 12 rủi ro ước tính. Diamond và Verrecchia (1991) nói rằng CBTT làm giảm thông tin bất cân xứng từ đó làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu, tăng nhu cầu của các nhà đầu tư lớn từ đó làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, trước khi ra quyết định đầu tư, những nhà đầu tư khôn ngoan (rational investor) cần phải xem xét lợi suất kỳ vọng thu được từ tài sản và rủi ro đầu tư liên quan. Rủi ro đầu tư đó bao gồm cả rủi ro thông tin không chắc chắn (hay còn gọi là rủi ro ước tính). Việc cải thiện mức độ CBTT có thể làm giảm rủi ro ước tính không thể đa dạng hóa của nhà đầu tư, giảm beta từ đó làm giảm chi phí vốn của doanh nghiệp (Barry và Brown, 1985; Coles và cộng sự, 1995). Căn cứ trên 2 lý thuyết trên, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành ở các quốc gia để xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp.

Một số những nghiên cứu nổi bật về chủ đề này là: Sử dụng mẫu nghiên cứu là 122 doanh nghiệp sản xuất năm 1990, kết quả hồi quy OLS của Botosan (1997) cho thấy mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp không có tác động đáng kể đến chi phí vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, khi phân tích thêm, tác giả thấy rằng với những doanh nghiệp có ít nhà phân tích theo dõi, CBTT làm giảm chi phí vốn chủ của doanh nghiệp, trong khi ảnh hưởng này đối với nhóm doanh nghiệp có nhiều nhà phân tích theo dõi là không đáng kể. Trong nghiên cứu này Botosan (1997) sử dụng phương pháp chỉ số công bố để đo lường mức độ CBTT tự nguyện, sau đó sử dụng thông tin này để tính toán tỷ lệ thứ hạng CBTT tự nguyện của doanh nghiệp. Để đo lường chi phí vốn chủ sở hữu Botosan sử dụng mô hình định giá dựa trên kế toán phát triển bởi Edwards và Bell (1961), Ohlson (1995) và Feltham và Ohlson (1995) (mô hình định giá EBO).

13 Francis và cộng sự (2004) lại xem xét mối quan hệ phức tạp giữa chất lượng lợi nhuận, CBTT tự nguyện và chi phí vốn của doanh nghiệp. CBTT tự nguyện được đo lường theo phương pháp chỉ số công bố dựa trên báo cáo thường niên và mẫu 10-K của 677 doanh nghiệp Mỹ trong năm 2001. Chi phí vốn chủ sở hữu được ước tính dựa trên dữ liệu dự báo của các nhà phân tích về giá mục tiêu, cổ tức và tỷ lệ tăng cổ tức do Value Line cung cấp. Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS cho thấy, doanh nghiệp có chất lượng lợi nhuận tốt thì CBTT tự nguyện nhiều và ngược lại.

Khi không xét đến chất lượng lợi nhuận thì CBTT có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ sở hữu, nhưng khi bổ xung biến chất lượng lợi nhuận thì tác động tích cực của CBTT đến chi phí vốn chủ sở hữu giảm đáng kể hoặc biến mất (tùy vào thước đo chi phí vốn). Francis và các cộng sự (2004) lí giải sở dĩ có điều này là do chất lượng lợi nhuận (thông tin) vừa có tác động lên CBTT tự nguyện, vừa có tác động đến chi phí vốn chủ sở hữu, do đó nếu bỏ qua biến này kết quả không còn chính xác. Không chỉ giới hạn phạm vi ở một quốc gia như những nghiên cứu trước, nghiên cứu của Francis và cộng sự (2005) sử dụng mẫu gồm 672 quan sát doanh nghiệp – năm của 484 doanh nghiệp ngành sản xuất từ 34 quốc gia trong thời gian 2 năm 1993 và 1995.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ