CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm Vốn là một điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp có thể ra đời và hoạt động. Mỗi một loại nguồn vốn đều có chi phí và mục đích sử dụng nhất định.
Do vậy, để có thể huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả, doanh nghiệp phải nghiên cứu từng nguồn vốn của mình để từ đó xác định một cơ cấu hợp lý phù hợp với từng điều kiện cụ thể, từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Từ đó, khái niệm về cơ cấu vốn ra đời. Có nhiều khái niệm về cơ cấu vốn doanh nghiệp, tuy nhiên có thể tóm lại, cơ cấu vốn là tỷ trọng của các nguồn vốn hay phản ánh mối quan hệ kết hợp giữa các nguồn tài trợ khác nhau trong tổng nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thường nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu tài trợ cho toàn bộ tài sản được đầu tư, qua đó biết được ban lãnh đạo của công ty đã quyết định tài trợ như thế nào, và sẽ có những tác động tích cực hay tiêu cực đến mục tiêu đề ra do quyết định tài trợ. Cùng với định hướng trên, tác giả Ross A.
và cộng sự (2003) đã định nghĩa cơ cấu vốn của một doanh nghiệp hay còn gọi là đòn bẩy tài chính là sự kết hợp giữa các việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại cơ cấu vốn Trong quá trình sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn tùy vào mục đích và loại hình của từng doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp phân loại vốn theo những tiêu thức khác nhau. Căn cứ theo phạm vi huy động vốn Dựa theo tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. 5 - Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp (nguồn vốn nội sinh): là nguồn vốn có thể huy động vào đầu tư được tạo ra từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp.
Nó thể hiện khả năng tự tài trợ cho đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp bao gồm: Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và các quỹ trích lập từ lợi nhuận. - Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp (nguồn vốn ngoại sinh): là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động được từ bên ngoài doanh nghiệp, phục vụ cho đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có thể huy động từ các nguồn như: Vay cá nhân, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng; phát hành cổ phiểu, trái phiếu; thuê tài sản; tín dụng thương mại; gọi vốn góp liên doanh, liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp, thuê tài sản… Phân loại theo phạm vi huy động vốn là cách cách phân loại giúp doanh nghiệp thấy rõ khả năng tự tài trợ cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
Từ đó, nhà quản lý chủ động trong việc lựa chọn nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của vốn Dựa theo tiêu thức này, nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia thành vốn cố định và vốn lưu động. - Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định. Đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Vốn cố định của doanh nghiệp đóng góp vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh. Việc đầu tư đúng hướng tài sản cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao trong kinh doanh giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và đứng vững trong cơ chế thị trường. - Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn lưu động luôn được chuyển hóa qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa và quay lại về hình thái tiền tệ ban đầu của nó.
Vì sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng, có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển của vốn. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn Dựa vào thời gian huy động và sử dụng mà nguồn vốn của doanh nghiệp có thể được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. - Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời thường gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
- Nguồn vốn thường xuyên là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cách phân loại nguồn vốn theo thời gian huy động giúp doanh nghiệp huy động những nguồn vốn có thời gian phù hợp với thời gian sử dụng các yếu tố cần thiết cho kinh doanh, tổ chức nguồn vốn đảm bảo phù hợp với cơ cấu tài sản để có thể lựa chọn mô hình nguồn tài trợ thích hợp cho doanh nghiệp. Căn cứ theo quan hệ sở hữu Các doanh nghiệp có thể tài trợ cho hoạt động kinh doanh bằng những hình thức khác nhau, chẳng hạn như mua chịu hàng hóa từ nhà cung cấp (tín dụng thương mại), vay ngắn hạn hoặc dài hạn từ các ngân hàng thương mại hoặc nhận vốn góp trực tiếp từ các chủ sở hữu.
Mỗi hình thức tài trợ có đặc điểm riêng mà qua đó sẽ tạo ra các tác động khác nhau đến sức khỏe tài chính của doanh nghiệp ở các khía cạnh như: rủi ro thanh toán, khả năng duy trì sự an toàn và ổn định trong cơ cấu tài chính, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, quyền kiểm soát của cổ đông hiện hữu. cuối cùng là tác động đến giá trị doanh nghiệp. Căn cứ theo quan hệ sở hữu, thông tin về hình thức tài trợ cho hoạt động kinh doanh, tức nguồn vốn của doanh nghiệp được trình bày trên bảng cân đối kế toán và được giải thích chi tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính, bao gồm hai nhóm: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, được sắp xếp theo tính ổn định tăng dần. 7 Nợ phải trả (debt) phản ánh các nguồn vốn hình thành do doanh nghiệp vay mượn, mua chịu hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp, các khoản nợ tích lũy (thuế chưa nộp cho nhà nước, lương và bảo hiểm xã hội chưa thanh toán cho người lao động).
Nợ phải trả được chia thành hai nhóm dựa vào thời hạn hoàn trả, bao gồm: nợ ngắn hạn - các khoản nợ có thời hạn hoàn trả trong vòng một năm hoặc một chu kỳ hoạt động kinh doanh, và nợ dài hạn - các khoản nợ có thời hạn hoàn trả trên một năm hoặc một chu kỳ hoạt động kinh doanh. Khác với nợ, vốn chủ sở hữu (equity) được hình thành do sự đóng góp của các chủ sở hữu hoặc được tích lũy từ kết quả kinh doanh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu là nguồn tài trợ có đặc điểm là không phải hoàn trả và có tính ổn định cao. Khi xem xét cơ cấu vốn của một doanh nghiệp, người ta thường chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu.
Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu được thể hiện trên nhiều khía cạnh như: thời hạn thanh toán, trách nhiệm thanh toán, chi phí sử dụng vốn và ảnh hưởng của nó đến thuế thu nhập doanh nghiệp. So sánh đặc điểm của nợ và vốn chủ sở hữu trên một số khía cạnh cơ bản, cụ thể như sau: Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu Thời hạn Có thời hạn hoàn trả. Không có thời hạn hoàn trả. thanh toán Trách Phải trả lãi cho khoản tiền đã vay, Không phải trả lãi mà chia lời tùy nhiệm trừ các khoản đã chiếm dụng.
theo kết quả hoạt động kinh doanh thanh Doanh nghiệp có thể bị phá sản và chính sách cổ tức của Doanh toán nếu không thanh toán được nợ gốc nghiệp. Doanh nghiệp không bị phá sản nếu không chia lợi nhuận cho chủ sở hữu. 8 Ảnh Lãi vay được tính vào chi phí Lãi chia cho các chủ sở hữu không hưởng được trừ khi xác định lợi nhuận làm giảm thuế thu nhập Doanh đến thuế chịu thuế thu nhập, do vậy lãi vay nghiệp. thu nhập có tác động làm giảm thuế thu Doanh nhập Doanh nghiệp.
nghiệp Chi phí Chi phí thấp hơn so với chi phí sử Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu sử dụng dụng vốn chủ sở hữu vì: cao hơn chi phí sử dụng nợ vì rủi vốn • Rủi ro với chủ nợ thấp hơn. ro của chủ sở hữu cao hơn so với • Nợ vay tạo ra khoản tiết chủ nợ, cụ thể như sau: kiệm thuế, Nhà nước đã • Chủ sở hữu được chia lợi gánh một phần lãi vay cho nhuận sau khi trả lãi vay và Doanh nghiệp, nên chi phí nộp thuế. sử dụng nợ mà Doanh • Trong trường hợp giải thể, nghiệp thực sự phải chịu phá sản thì họ được xếp thứ thấp hơn. tự ưu tiên cuối cùng khi phân chia tài sản thanh lý.
Nói tóm lại, khi đề cập đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, người ta thường chú trọng đến mối tương quan tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Các chỉ tiêu xác định cơ cấu vốn của doanh nghiệp Để đánh giá và đo lường cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây thường căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, gồm: Tỷ số nợ; Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu; Tỷ số tự tài trợ.