CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TÁC ĐỘNG TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2017 1. Chính sách tiền tệ 1. Khái niệm chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách của Nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Thông qua việc cung ứng các phương tiện thanh toán cần thiết cho nền kinh tế tạo ra những khuôn khổ mang tính pháp lý cho các hoạt động tiền tệ trong nền kinh tế.
CSTT hướng đến mục đích ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống của người dân. Điều hành CSTT nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Mục tiêu của chính sách tiền tệ 1. Mục tiêu cuối cùng của CSTT Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, kiểm soát lạm phát và bảo đảm quốc phòng an ninh.
a) Phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng Sự tác động vào quá trình phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng do nhiều yếu tố khác nhau và rất phức tạp. Nhưng có 1 điều chắc chắn là muốn kinh tế tăng trưởng thì nhất thiết phải thực hiện tái sản xuất mở rộng trên cơ sở khai thác triệt để các nguồn vốn tiềm năng trong và ngoài nước. Trong việc thực hiện mục tiêu này vai trò của ngân hàng là rất quan trọng. Với chức năng là trung tâm tín dụng, dưới sự chỉ đạo của ngân hàng trung ương thông qua chính sách tiền tệ, các ngân hàng sẽ huy động một cách triệt để các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, trên cơ sở đó phân phối 4 lại cho các đơn vị kinh tế sử dụng để bổ sung thêm một bộ phận tài nguyên trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế.
b) Tạo công ăn việc làm Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm, nói chung chủ yếu phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế được mở rộng và phát triển thì việc làm được tạo ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm, và ngược lại. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý rằng khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của việc cải tiến kỹ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm. Vai trò của ngân hàng trung ương khi thực hiện mục tiêu này là phải vận dụng các công cụ của mình góp phần tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh.
Mặt khác phải tham gia tích cực vào việc chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ổn định, vững chắc nhằm mục đích khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tạo ra 1 lượng công ăn việc làm cao c) Kiểm soát lạm phát Trong điều kiện lưu thông tiền vàng hoặc tiền giấy tự do chuyển đổi ra vàng thì khối lượng tiền thực tế sẽ phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế một cách tự phát thông qua cơ chế đúc và đổi tiền tự do. Nhưng ngày nay, thời đại của chế độ lưu thông tiền giấy, hiện tượng lạm phát là hiện tượng tất yếu xảy ra. Mà một nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng được trong một môi trường ổn định về tiền tệ - giá cả. Trong điều kiện đó ngân hàng trung ương phải luôn coi kiểm soát lạm phát là một trong những mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Theo kết quả nghiên cứu được công bố năm 1960 của nhà kinh tế học người Mỹ, A.W Philips, thì lạm phát và thất nghiệp tỷ lệ nghịch với nhau. Cụ thể cứ giảm 1% lạm phát thì tỷ lệ thất nghiệp tăng 2%, mặt khác, mức lạm phát quá thấp thì kinh tế dễ rơi vào tình trạng suy thoái. Mà tăng trưởng kinh tế, khống chế tỷ lệ thất nghiệp và kiểm soát lạm phát đều là mục tiêu cần đạt đến của chính sách tiền tệ 5 1.2 Mục tiêu trung gian của CSTT Để đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT, NHTW cũng cần xác định rõ các mục tiêu trung gian để đạt được mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu trung gian thường được chọn là khối tiền cung ứng (M1, M2, M3) và lãi suất thị trường.
Các mục tiêu trung gian này có thể định lượng, đo lường, kiểm soát và thông qua đó có thể dự đoán được việc thực hiện các mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu tổng lượng tiền cung ứng: Nếu NHTW chọn tổng lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian với tỷ lệ tăng dự tính là x%, lãi suất tương ứng là i* (Hình 1). Tuy nhiên, nếu mức cầu tiền tệ không ổn định tại MD mà dao động giữa MD' và MD'' thì lãi suất sẽ biến động từ i' đến i''. Sự biến động của nhu cầu tiền tệ là tất yếu bởi sự tăng lên hoặc giảm xuống không dự tính trước được của các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu nắm giữ tiền tệ của công chúng.
Trong điều kiện cố định mức cung ứng tiền tệ, sự biến động mức lãi suất là hiển nhiên. Biến động lãi suất theo lượng cung tiền xác định 6 Mục tiêu lãi suât: Nếu NHTW chọn mức lãi suất mục tiêu i* = y%, mức cầu tiền tệ tương ứng sẽ là MD (Hình 2). Trong thực tế, mức cầu tiền dao động từ MD' đến MD''. Để đạt được mục tiêu lãi suất tại i*, NHTW buộc phải thay đổi mức cung tiền từ M' đến M'' nhằm ngăn cản sự tăng lên hay giảm xuống của lãi suất so với i*.
Như vậy, để duy trì mục tiêu lãi suất, mức cung ứng tiền và cơ số tiền sẽ biến động. Biến động lượng cung tiền theo lãi suất xác định 1. Mục tiêu hoạt động của CSTT Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ CSTT. Các chỉ tiêu này bao gồm: tổng dự trữ của các ngân hàng trung gian, lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hoặc lãi suất tín phiếu kho bạc.
Bằng việc đạt được mục tiêu về các chỉ tiêu này, NHTW có thể đạt được mục tiêu trung gian và do đó mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất 7 định. Sự phản ứng nhanh chóng và chính xác của các chỉ tiêu này mỗi khi NHTW điều chỉnh CSTT giúp cho NHTW có thể kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định trong điều hành CSTT hàng ngày. Tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu hoạt động cũng tương tự như mục tiêu trung gian, chỉ có điều các chỉ tiêu được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động phải có ảnh hưởng mạnh đến các mục tiêu trung gian. Vì thế, sự lựa chọn mục tiêu hoạt động phụ thuộc vào việc NHTW chọn chỉ tiêu nào làm mục tiêu trung gian: lãi suất hay tổng lượng tiền.
Các công cụ của chính sách tiền tệ 1. Công cụ trực tiếp a) Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng trung gian phải đưa vào dự trữ theo luật định. Mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy định. tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà ngân hàng trung gian huy động được, phải để dưới dạng dự trữ.
Như vậy mỗi ngân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi đã trừ phần dự trữ bắt buộc. Qua đó với việc tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể hạn chế hoặc bành trướng khối tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng cho nền kinh tế. Nói cách khác, khi ngân hàng trung ương tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì ngân hàng trung ương có thể làm giảm hoặc tăng hệ số tạo tiền của ngân hàng trung gian, và kết quả là khối tín dụng mà các ngân hàng trung gian có thể cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặc tăng. Đây là công cụ mang tính chất hành chính của NHTW.
Ưu điểm của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ là nó có thể tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và tác động một cách mạnh mẽ. Tuy vậy, công cụ này cũng có mặt trái khi sử dụng. Đó là khi ngân hàng trung ương muốn thay đổi cung tiền tệ ở biên độ nhỏ, nó khó có thể thực hiện được nếu sử dụng công cụ này. Hơn nữa, việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt 8 buộc sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM, nếu thường xuyên thay đổi tỷ lệ này sẽ gây tình trạng mất ổn định và việc quản lý tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng trở lên khó khăn hơn.
b) Nghiệp vụ thị trường mở Công cụ thị trường mở phản ánh việc NHTW mua hoặc bán những chứng từ có giá trên thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt đến mục tiêu điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông. Các chứng từ có giá mà các NHTW thường sử dụng để tiến hành nghiệp vụ thị trường mở là các chứng khoán kho bạc, bởi vì thị trường của những chứng khoán này rất linh hoạt và có khối lượng kinh doanh lớn. Nghiệp vụ thị trưởng mở có thể được hiểu như sau: Khi NHTW đem chứng khoán ra thị trường mở bán nó sẽ thu được tiền mặt và séc về. Điều này có nghĩa là khối lượng tiền mặt cung ứng cho lưu thông giảm, làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng trung gian, và như thế cung ứng tiền trong nền kinh tế bị thắt chặt hơn.
Bên cạnh đó, việc NHTW bán chứng khoán ra thị trường mở sẽ làm tăng cung chứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứng khoán này hạ, dẫn đến lãi suất của chứng khoán tăng lên. Lãi suất của chứng khoán tăng buộc các ngân hàng trung gian phải tăng lãi suất ngân hàng lên để tránh tình trạng dân chúng rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư vào chứng khoán, nghĩa là gián tiếp thắt chặt thêm khối tiền tệ. Ngược lại, khi NHTW đem tiền mặt hoặc séc mua chứng khoán trên thị trường mở, lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, dự trữ của ngân hàng thương mại tăng lên. Mặt khác, việc NHTW mua chứng khoán sẽ làm tăng cầu về chứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứng khoán sẽ tăng, dẫn đến lãi suất chứng khoán giảm, và đến lượt lãi suất ngân hàng giảm, kích thích doanh nghiệp đi vay, nghĩa là một cách bành trướng khối tiền tệ.