CHƯƠNG 1 Vấn đề nghiên cứu về tác động của chính sách cổ tức tiền mặt đến chất lượng lợi nhuận được nhiều nhà đầu tư quan tâm đặc biệt trong bối cảnh thị trường việt Nam còn kém về tính minh bạch và sự đo lường, đánh giá chất lượng lợi nhuận còn nhiều hạn chế. Nắm được tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu nêu trên, tác giả thực hiện luận văn hướng đến đề tài “Tác động của chính sách cổ tức đến chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích mối quan hệ giữa chính sách cổ tức tiền mặt và chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp được niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó, đưa ra các hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng chính sách cổ tức. Để giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả thực hiện phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn từ 2012 – 2016 đối với các công ty cổ phần niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm các lĩnh vực kinh doanh trừ các công ty sáp nhập, những công ty không đầy đủ số liệu kế toán và các công ty thuộc ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, cho thuê tài chính, quản lý quỹ, … Kết quả nghiên cứu của luận văn kỳ vọng sẽ giúp cho những người hoạt động trong lĩnh vực tài chính có được một cái nhìn rộng và sâu hơn trong việc đánh giá tầm quan trọng của chất lượng báo cáo tài chính và chính sách cổ tức của doanh nghiệp.
8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Cổ tức và chính sách cổ tức 2. Khái niệm cổ tức và chính sách cổ tức Cổ tức (dividends) được hiểu là phần lợi nhuận sau thuế công ty dành để chi trả cho các cổ đông của công ty cổ phần (Miller và Modigliani, 1961). Chính sách cổ tức (dividend payouts) là chính sách ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối như thế nào, lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được trả cho các cổ đông (Aharony và Swary, 1980; Asquith và Mullis, 1983; Healy và Palepu, 1988).
Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, trong khi đó cổ tức cung cấp cho nhà đầu tư một phân phối lợi nhuận hiện tại. Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm và chính sách cổ tức được hội đồng cổ đông trong năm trước thông qua, hội đồng quản trị sẽ đề xuất việc trả cổ tức của cả năm và kế hoạch dự kiến trả cổ tức của công ty trong năm tiếp theo. Như vậy, cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được công ty cổ phần phân chia cho các chủ sở hữu của mình bằng nhiều hình thức khác nhau như trả cổ tức bằng tiền mặt, trả cổ tức bằng cổ phần, trả cổ tức bằng tài sản khác hay mua lại cổ phần. Trong công ty cổ phần, việc quyết định phân chia cổ tức cho các cổ đông hết sức quan trọng bởi vì: thứ nhất, chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông vì cổ tức cung cấp cho cổ đông lợi nhuận hữu hình thường xuyên; thứ hai, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty thông qua việc quyết định chính sách cổ tức, công ty đồng thời quyết định chính sách tài trợ dựa vào lợi nhuận giữ lại sau khi chi trả cổ tức; thứ ba, chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách đầu tư của công ty do ảnh hưởng đến nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại vốn có chi phí sử dụng vốn thấp.
Một chính sách cổ tức tốt không nên đứng biệt lập mà cần hoạch định kết hợp nhịp nhàng với chính sách đầu tư và chính sách tài trợ trong một bản kế hoạch tài chính dài hạn, trên cơ sở phân tích dòng tiền dài hạn của công ty và nên được định hướng nhất quán mang tính dài hạn. Các phương thức chi trả cổ tức Doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn phương thức chi trả cổ tức khác nhau. Việc lựa chọn phương thức chi trả cổ tức nào phụ thuộc vào lượng tiền mặt hiện có khả năng chi trả của doanh nghiệp, nhu cầu sử dụng tiền mặt để tái đầu tư, hoặc cũng có thể là nhằm phù hợp với mục tiêu nào đó của doanh nghiệp. Phương thức trả cổ tức bằng tiền mặt Là việc chi trả bằng tiền mặt cho các cổ đông theo một tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá.
Mệnh giá là giá trị được ấn định trong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động của công ty. Thông thường một công ty làm ăn có lãi sẽ chi trả cổ tức cho cổ đông dưới dạng tiền mặt. Khoản tiền này được trích từ lợi nhuận cả doanh nghiệp sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định của luật doanh nghiệp, theo điều lệ của công ty và giữ lại một phần nhằm tái đầu tư phát triển sản xuất. Phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu Là chi trả thêm cổ phần thường cho các cổ đông đang nắm giữ cổ phần thường.
trả cổ tức bằng cổ phiếu thực chất là nhằm giữ lại các khoản lợi nhuận, thặng dư hoặc các khoản tiền của các quỹ nhằm củng cố lượng tiền mặt hiện có trong vốn của cổ đông cũng như của doanh nghiệp để thúc đẩy việc đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. không có sự thay đổi nào về vốn cổ đông cũng như tài sản của công ty. Về cơ bản, số lượng cổ phiếu sẽ tăng lê và làm cho tỷ lệ vốn cổ phần tăng lên nhưng tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông cũ không đổi. Như vậy, trả cổ tức bằng cổ phiếu và bằng tiền mặt rất khác nhau.
Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt, dẫn đến giảm tài sản và giảm lợi nhuận giữ lại, do đó làm giảm vốn chủ sở hữu của cổ đông. Trong khi đó, trả cổ tức bằng cổ phiếu chỉ liên quan đến việc chuyển tiền từ tài khoản lợi nhuận sang tài khoản vốn cổ phần thường của các cổ đông. Phương thức trả cổ tức bằng tài sản Một công ty có sở hữu chứng khoán trong các công ty khác có thể phân phối chứng khoán này cho cổ đông của công ty như là cổ tức, hoặc có thể phân phối cổ 10 tức bằng sản phẩm của công ty. Mặc dù rất hiếm, nhưng cũng có thể trả cổ tức bằng tài sản.
Phương thức trả cổ tức thông qua mua lại cổ phần Tuy không hoàn toàn được coi là một phương thức chi trả cổ tức nhưng thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt, đôi khi một vài doanh nghiệp sẽ tiến hành mua lại các cổ phần đang lưu hành. Việc mua lại này có thể thực hiện bằng nhiều cách như: Chào mua với giá cố định (hay còn gọi là giá đệm, là một mức giá thường cao hơn thị trường). Mua lại cổ phần ở thị trường tự do. Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá.
Mua lại cổ phiếu mục tiêu, hay thương lượng riêng với những người nắm giữ lượng lớn các cổ phần. … Đứng dưới góc độ các cổ đông, việc công ty mua lại cổ phần sẽ làm tăng mức lợi nhuận trên mỗi cổ phần cho số cổ phần còn lại và làm tăng giá của cổ phần. Đối với những doanh nghiệp đã hoạt động ổn định, trả cổ tức bằng tiền mặt thường được nhà đầu tư ưa thích hơn, đơn giản vì đó là tiền thật, thu nhập thật, là minh chứng cho tình hình tài chính doanh nghiệp được điều hòa tốt. Hơn nữa, nếu doanh nghiệp đã bị "khó" tiền mặt mà lại thêm "nghĩa vụ" (thêm cổ phần lưu hành) thì có thể là gánh nặng.
Vậy nên, việc trả cổ tức bằng cổ phần thường chỉ được các công ty mới, đang tăng trưởng mạnh, hoặc có kế hoạch phát triển và lạc quan về hiệu quả hoạt động áp dụng. Các chính sách chi trả cổ tức Tương ứng với nhiều sự lựa chọn phương thức chi trả cổ tức, doanh nghiệp cũng có rất nhiều chính sách cổ tức để lựa chọn sao cho phù hợp với dòng tiền, lưu lượng tiền tệ và nhu cầu đầu tư của đơn vị. Mặc dù được xếp ưu tiên thấp hơn chính sách tài trợ và chính sách đầu tư, nhưng việc chọn chính sách cổ tức cũng đòi hỏi được xem xét cẩn thận bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông và sự phát triển của công ty. Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách này xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lời cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi.
Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là các công ty tăng trưởng thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các công ty đang trong giai đoạn bão hòa. Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ngụ ý việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc vào cơ hội đầy tư có sẵn. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian. Điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi vì cổ tức có thể duy trì ổn định hàng năm theo hai cách: (i) Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao.
(ii) Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức. Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức. Sau đó, trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp. Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định.
Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác.