Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu Năm 2005, Việt Nam đã có 136.000 doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp năm 2000. Lượng doanh nghiệp lúc này gấp 6 lần so với 9 năm trước đó. Số lượng này vào năm 2013 vào khoảng gần 400. Cũng vào năm này cả nước có 77.741 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 398.681 tỷ đồng, tăng 10,1% về số lượng doanh nghiệp và giảm 14,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước (số liệu từ Cục quản lý đăng ký kinh doanh năm 2014).
Tuy nhiên sự phát triển doanh nghiệp không đồng đều giữa các địa phương, 60% số doanh nghiệp tập trung ở 11 tỉnh. Cụ thể hơn, vào năm 2013, tỷ lệ thành lập doanh nghiệp thay đổi mạnh qua các vùng miền (Vũ Tiến Lộc, 2015). Tình hình doanh nghiệp thành lập mới theo vùng kinh tế trong năm 2013 10% 29% 40% 4% 14% 3% Đồng bằng sông Hồng Trung du và miền núi phía bắc Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: Dữ liệu từ Cục quản lý đăng ký kinh doanh năm 2014 và tính toán của tác giả) Việc doanh nghiệp lựa chọn địa phương nào hay vùng miền nào có thể phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố mang tính lợi thế tự nhiên như vị trí địa lý hay đặc điểm môi trường tự nhiên. Điều đáng nói là một số địa phương có sự tương đồng về địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực - các điều kiện cứng để hỗ trợ doanh 1 nghiệp làm ăn, song lại có tốc độ doanh nghiệp phát triển rất khác nhau.
Ví dụ như cùng quanh Hà Nội, khi đó doanh nghiệp ở Vĩnh Phúc, Hưng Yên phát triển tốt trong khi doanh nghiệp ở Hà Nam lại rất kém. Tương tự khi so sánh Bình Dương với Bình Phước, Long An. Như vậy sự khác biệt này nằm ở năng lực điều hành kinh tế của chính quyền địa phương. Năng lực điều hành này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường đầu tư của địa phương, và năng lực cạnh tranh của địa phương lại là một trong những lý do chính để doanh nghiệp lựa chọn địa điểm để đầu tư (Andele, 2010).
Tại Việt Nam, PCI đã ra đời để đo đếm năng lực cạnh tranh thông qua sự đánh giá, cho điểm của cộng đồng doanh nghiệp. PCI là công trình nghiên cứu đầu tiên lượng hóa chỉ số về sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp với cấp chính quyền (Vũ Tiến Lộc, 2015). Nghiên cứu này nhận thức được tầm quan trọng của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để đánh giá mức độ thuận lợi về môi trường đầu tư, kinh doanh, đánh giá công tác quản lý và điều hành kinh tế của các tỉnh, thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp dân doanh trên 10 khía cạnh có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Đồng thời nghiên cứu này cũng đặt ra một câu hỏi là thực sự môi trường cạnh tranh của địa phương được đánh giá thông qua chỉ số PCI có tác động tới môi trường đầu tư của địa phương mà cụ thể ở đây là tác động tới lượng doanh nghiệp đầu tư mới tại địa phương hay không? Nếu sự tác động này xảy ra thì những thành phần nào của chỉ số PCI hay nói cách khác thành phần nào thuộc về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh sẽ đóng vai trò quan trọng hơn những thành phần còn lại trong việc thúc đẩy lượng doanh nghiệp đầu tư mới tại địa phương.
Như vậy để làm rõ vấn đề này, việc lựa chọn và thực hiện đề tài: “Tác động của PCI đến hoạt động thành lập doanh nghiệp mới tại các địa phương ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014” là cần thiết. ục t u ng n cứu Với vấn đề nghiên cứu được đặt ra, đề tài này mong muốn đạt các mục tiêu sau: (i) Đánh giá mức độ tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tới việc đăng ký thành lập doanh nghiệp của các địa phương ở Việt Nam. (ii) Đánh giá mức độ tác động của các chỉ số thành phần của PCI đến việc đăng ký thành lập doanh nghiệp của các địa phương ở Việt Nam. 2 (iii) Đưa ra những kết luận và khuyến nghị liên quan đến sự tác động của PCI và các chỉ số thành phần của PCI đến việc đăng ký thành lập doanh nghiệp mới của các địa phương ở Việt Nam.
C u ng n cứu Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung vào giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau: (i) Chỉ số PCI có tác động như thế nào đến việc đăng ký thành lập doanh nghiệp mới tại các địa phương ở Việt Nam? (ii) Trong trường hợp chỉ số PCI tổng thể có tác động thì mức độ tác động của từng chỉ số thành phần PCI tới việc đăng ký thành lập doanh nghiệp tại các địa phương là như thế nào? 1. P ƣơng p áp ng n cứu Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu đã được đặt ra. Sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng kết hợp với kỹ thuật sử dụng biến công cụ cùng với một số kiểm định cần thiết như kiểm định biến nội sinh, kiểm định sự phù hợp của tập biến công cụ và kiểm định sự tương quan của biến công cụ với phần dư. Ngoài việc sử dụng mô hình hồi quy, đề tài cũng sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả: bảng tần số và tần suất đối với các biến định tính, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất đối với các biến định lượng để có những đánh giá ban đầu về các biến trong mô hình.
Đố tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu sự tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và sự tác động của các chỉ số thành phần của PCI đến số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới kết hợp với yếu tố tác động khác như: giá trị GDP, lực lượng lao động, tỉnh trọng điểm tại 63 tỉnh thành của Việt Nam. Đối tượng được khảo sát là doanh nghiệp ngoài nhà nước. Phạm vi nghiên cứu Có nhiều yếu tố tác động đến sự hình thành doanh nghiệp mới, tuy nhiên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một vài yếu tố chủ yếu: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, các chỉ số thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, giá trị GDP của địa 3 phương, lực lượng lao động tại địa phương, tỉnh trọng điểm có ảnh hưởng đến hoạt động thành lập doanh nghiệp mới tại 63 tỉnh, thành trong phạm vi nước Việt Nam, với thời gian nghiên cứu là 5 năm, từ năm 2010 đến năm 2014.
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), và sự tác động của các chỉ số PCI thành phần đến hoạt động thành lập doanh nghiệp mới. Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận và khuyến nghị liên quan. Ý ng ĩa của đề tài nghiên cứu 1. Điểm mới của đề tài Đã có các nghiên cứu về PCI tác động đến tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng đầu tư tư nhân, tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp, hay dòng vốn FDI chảy vào các địa phương nhưng tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu về PCI có mối quan hệ với việc thành lập doanh nghiệp mới.
Ngoài việc sử dụng biến PCI, các biến thành phần của PCI, nghiên cứu còn đưa thêm một số biến thuộc kinh tế vĩ mô của địa phương như: GDP, lực lượng lao động địa phương, tỉnh trọng điểm để xem xét mối quan hệ với hoạt động thành lập doanh nghiệp mới ở các tỉnh/thành trong cả nước. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Sự phát triển (cả về kinh tế và xã hội) của một quốc gia, một địa phương phụ thuộc rất lớn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp giúp chính phủ, chính quyền các cấp giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế và xã hội như: thu nhập của người lao động, thu thuế để phát triển kinh tế, an sinh xã hội, tình trạng thất nghiệp, việc làm cho người lao động, chính sách đào tạo,. Nói chung, hoạt động của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định sự phát triển của địa phương, quốc gia.
Vì vậy, chính phủ và chính quyền địa phương phải tạo môi trường thuận lợi, xây dựng thể chế kinh tế tốt góp phần tăng năng suất, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Địa phương nào có môi trường kinh doanh tốt, nâng cao được năng lực cạnh tranh thì nơi đó sẽ thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và phát triển kinh tế. Vì thế, trong những năm gần đây, thông qua quá trình đánh giá năng lực cạnh tranh của các địa phương do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 4 thực hiện, qua các chỉ số thành phần của PCI, chính quyền địa phương các tỉnh/thành trong cả nước đã và đang thực hiện cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào địa phương mình. Trước thực trạng đó, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm cung cấp một cách nhìn khoa học, khách quan để chính quyền địa phương có cơ sở khoa học đề ra các chính sách, giải pháp thiết thực thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, từ đó giúp kinh tế của địa phương phát triển.
Kết cấu của đề tài ết cấu của đề tài nghiên cứu dự kiến trình bày gồm 05 chương như sau: C ƣơng 1: Giới thiệu. Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung: lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. C ƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Ở chương này, trình bày các khái niệm về doanh nghiệp, doanh nghiệp được thành lập mới, năng lực cạnh tranh, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và lý thuyết về kinh tế học thể chế, năng lực cạnh tranh, PCI và các chỉ số thành phần của PCI.
Đồng thời, tác giả cũng trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đưa ra mô hình lý thuyết. C ƣơng 3: P ƣơng p áp ng n cứu và dữ liệu nghiên cứu.