Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ, DANH TIẾNG VÀ LÒNG TRUNG THÀNH TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Theo từ điển tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr.256, dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Theo Shahin (2006), dịch vụ là một hành động hay chuỗi các hành động có bản chất vô hình nhiều hay ít, được thể hiện thông qua sự tương tác của khách hàng với nhân viên dịch vụ và/hoặc các hàng hóa hay nguồn lực có trạng thái vật lý và/hoặc các nhà cung cấp dịch vụ.
Philip Kotler (2000) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, về cơ bản là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ đó có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Theo Lovelock (2001), dịch vụ là hoạt động kinh tế nhằm tạo ra giá trị và mang đến lợi ích cho khách hàng tại một địa điểm và thời gian nhất định. Trong bài nghiên cứu này, dịch vụ được định nghĩa là một hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, về cơ bản dịch vụ không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) và không đem lại sự sỡ hữu bất kỳ thứ gì.
Khái niệm dịch vụ trong giáo dục đại học Dịch vụ giáo dục là hình thức dịch vụ với những hoạt động mang tính vô hình, hướng đến suy nghĩ của con người, có tính liên tục chuyển giao, thực hiện thông qua mối quan hệ (partnrership) giữa cơ sở giáo dục và khách hàng-người học. Mặc dù đó là một “hợp đồng” mang tính cá nhân cao giữa hai bên nhưng tính chuyên biệt cho từng khách hàng không cao (Lovelock, 2011). Hennig-Thurau (2001) cho rằng dịch vụ trong giáo dục liên quan chặt chẽ đến việc cung cấp trí thức, kỹ năng, động cơ để người học đạt được mục đích mong muốn. Dịch vụ giáo dục đào tạo là dịch vụ liên quan đến việc phục vụ, cung cấp kiến thức, điều kiện học tập và các tiện nghi cho người học.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, dịch vụ giáo dục đào tạo đang được xét đến tại trường đại học Ngoại thương cơ sở II. 10 Xét trong lĩnh vực giáo dục đại học, nghiên cứu của Nguyễn Thành Long (2006) cho rằng giáo dục không còn là dịch vụ công thuần túy mà đang chịu sự chi phối bởi yếu tố thị trường, yếu tố dịch vụ, quan hệ cung cầu, nhất là trong giáo dục chuyên nghiệp. Theo ông, xuất phát từ khái niệm khách hàng là người chi trả (tiền) để nhận một tiện ích nào đó do sự cung ứng dịch vụ mang lại, có năm nhóm khách hàng hay bên liên quan mà trong các nghiên cứu nước ngoài được thể hiện thông qua từ stakeholder. Đó là phụ huynh của sinh viên, tổ chức tuyển dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp, giảng viên, chính quyền hay xã hội và cuối cùng là sinh viên.
Trong đó, sinh viên là khách hàng quan trọng vì tham gia trực tiếp toàn bộ quá trình dịch vụ. Theo Yunus và các cộng sự (2010), sinh viên chính là khách hàng chính (primary customers) của các trường đại học khi mà các nhu cầu của sinh viên được đáp ứng bởi các nhóm có liên quan, ví dụ nhu cầu được tiếp cận các kiến thức học thuật có giá trị hay chất lượng dịch vụ tốt. Đó là trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong việc cung cấp các chương trình, khóa học cụ thể và chất lượng dịch vụ tốt. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm rất đặc biệt, có nhiều đặc tính để phân biệt nó với các loại hàng hóa hữu hình khác.
Chính những đặc tính này cũng khiến cho việc định lượng dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với các loại hình hàng hóa khác, cụ thể – Tính vô hình Dịch vụ có tính phi vật chất, không có hình dáng cụ thể, không thể sờ, chạm, cân, đong, đo, đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khách hàng đồng thời không thể yêu cầu mẫu, hay dùng thử sản phẩm dịch vụ như sản phẩm vật chất. Như vậy, chỉ những khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách tốt nhất. Trong nghiên cứu này, đối tượng khảo sát của nhóm tác giả chính là những sinh viên, cựu sinh viên nhưng có sự giới hạn từ những sinh viên học ít nhất hai học kỳ trở lên để đảm bảo họ có đủ thời gian để cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất đồng thời giới hạn là các cựu sinh viên đến khóa K51 để đảm bảo thời gian càng gần thì việc ghi nhận đánh giá từ họ sẽ phản ánh tốt hơn.
– Tính không đồng nhất 11 Việc đánh giá chất lượng dịch vụ khó có thể được xác định dựa vào một tiêu chuẩn đồng nhất mà cần xét đến nhiều yếu tố liên quan khác. Mỗi nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, địa điểm phục vụ đem đến cho khách hàng trong mỗi lần là khác nhau. Sự cảm nhận của khách hàng về dịch vụ chịu tác động bởi thái độ, trình độ, kỹ năng của người cung ứng dịch vụ; và đặc điểm của khách hàng về nhận thức và tâm trạng cũng tác động đến việc đánh giá chất lượng dịch vụ của họ đối với nhà cung cấp. Cùng một loại dịch vụ nhưng được đánh giá ở các mức độ khác nhau ở những khách hàng khác nhau.
Trong bài nghiên cứu này, chất lượng dịch vụ đào tạo hoàn toàn được đánh giá từ sinh viên, cựu sinh viên thông qua các thang đo khái quát các khía cạnh của chất lượng dịch vụ đồng thời cũng xét đến các nhân tố thống kê mô tả để đánh giá kết quả lòng trung thành của sinh viên thu được. – Tính không thể tách rời Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời và không thể tách rời, khách hàng muốn sử dụng dịch vụ thì cần sự tiếp xúc với nhân viên hay người cung cấp dịch vụ tại địa điểm, thời gian nhất định. Tương tự với lĩnh vực giáo dục đại học, sinh viên được giảng dạy, truyền đạt kiến thức từ các giảng viên trên lớp học theo các tiết học, được sử dụng các tiện ích Internet, sách, tài liệu nghiên cứu từ thư viện,… Trong bài nghiên cứu này, cả yếu tố vô hình và yếu tố hữu hình được đưa vào để đánh giá một cách đầy đủ cảm nhận của sinh viên, đo lường mức độ tác động của nó đến lòng trung thành của sinh viên với trường. – Tính không thể cất trữ Dịch vụ chỉ tồn tại trong thời gian nó được cung ứng.
Nếu như hàng hóa khi được sản xuất xong sẽ được cất trữ, lưu kho khi cần xuất kho đem bán thì dịch vụ không thể sản xuất đại trà hàng loạt, rồi đem lưu kho đến lúc có nhu cầu thì đem ra bán được. Trong lĩnh vực giáo dục đại học, dịch vụ giáo dục tồn tại trong khoảng thời gian khi có sự tiếp xúc của sinh viên với các chương trình và giảng viên dạy học trên lớp, thông qua việc tiếp xúc với những tiện nghi, cơ sở vật chất tại thư viên hay một số trường hợp khác. – Tính không chuyển quyền sở hữu Đối với sản phẩm hữu hình, khi khách hàng thanh toán tiền để mua một sản phẩm bất kỳ thì họ trở thành chủ sỡ hữu của sản phẩm đó và có quyền định đoạt đối 12 với sản phẩm mình đã mua. Đối với dịch vụ, khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ và nhận được lợi ích dịch vụ cung ứng trong một khoảng thời gian nhất định mà thôi.
Trong lĩnh vực giáo dục, sinh viên chỉ có quyền sử dụng các tiện tích dịch vụ giáo dục được cung cấp mà không sở hữu nó, sinh viên chỉ có thể có những đóng góp đánh giá về dịch vụ sau khi sử dụng. Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ đào tạo 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ đào tạo Khái niệm chất lượng lần đầu tiên được đề xuất và nghiên cứu bởi Juran (1974) và Demmign và Edwards (1982); tuy nhiên, chất lượng dịch vụ lại là một khái niệm mới và được giới thiệu bởi Gronroos (1984) và Parasuraman cùng các cộng sự (1988). Trong vòng 20 năm qua, rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập và nghiên cứu khái niệm chất lượng dịch vụ do những yêu cầu của môi trường kinh doanh năng động toàn cầu (Annamdevula và các cộng sự, 2016).
Theo Hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ (ASQ) chất lượng là toàn bộ các tính năng và đặc điểm mà một sản phẩm hay dịch vụ đem lại nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra từ khách hàng. Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong dự thảo DIS 9000:2000 đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Ở đây, yêu cầu là các nhu cầu mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán.” Philip Kotler và các cộng sự (2005) cho rằng chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó. Do môi trường văn hóa khác nhau, người tiêu dùng ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có nhận thức khác nhau về chất lượng dịch vụ ở mỗi loại hình dịch vụ khác nhau (Malhotra và cộng sự, 2005; Nguyễn Thị Mai Trang, 2006).
Theo Parasuraman và các cộng sự (1985,1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về chất lượng dịch vụ một cách chi tiết, cụ thể trong lĩnh vực tiếp thị bằng việc đưa ra lý thuyết mô hình năm khoảng cách trong chất lượng dịch vụ (Nguyễn Đình Thọ và các cộng sự, 2003).