chương 1, tác giả đã trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phương pháp cần phải nghiên c u từ đó đưa ra mô hình nghiên c u cụ thể. Mô hình nghiên c u, gồm các yếu tố tài chính công ty như: Performance: Yếu tố tài chính: Leverage (Debt): đòn bẩy tài chính; Dividend (DPS): c t c/c phiếu; Ownership(SOE): Sở hữu; Size: Quy mô công ty; Growth: Tăng trưởng doanh nghiệp; Risk: Độ lệch chuẩn ROA; Li uidity: Thanh khoản; Tangibility: TS hữu hình. Là các yếu tố tài chính tác động đến hiệu uả hoạt động của doanh nghiệp đây là tiền đề để trả lời các câu hỏi nghiên c u trong những chương tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.
Hiệu quả hoạt động của 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động. Shleifer & Vishny (1997) định nghĩa hiệu uả hoạt động của một t ch c doanh nghiệp là phải đảm bảo tỷ suất hoàn vốn đầu tư đạt m c tối đa cho các c đông và chủ nợ của t ch c. Theo Charreaux (1997) có định nghĩa rộng hơn, ông cho rằng hiệu uả hoạt động công ty là cách kiểm soát mang tính t ch c nhằm chi phối cách ng xử của các nhà uản lý và xác định uyền lực cần thiết của họ để đạt được hiệu uả trong công việc từ đó tối ưu hóa hiệu uả hoạt động cho công ty.
Đối với Parkinson (1994), hiệu uả hoạt động trong công ty đạt m c tối ưu khi việc điều hành, uá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện nghiêm túc nhằm đảm bảo các hoạt động uản trị và hoạt động tài chính của công ty được tối ưu và phù hợp với lợi ích các c đông. Từ đó, tác giả đề xuất khái niệm về hiệu uả công ty. Để đạt được hiệu uả hoạt động, công ty cần có sự tồn tại củahai đối tượng bao gồm chủ thể uản lý là c đông và khách thể uản lý là Ban giám đốc. C đông hoặc người đại diện của họ (HĐQT) với Ban giám đốc xác lập các điều khoản giao kết dân sự về cơ chế giám sát, kiểm soát và vận hành hệ thống.
Đây là một hệ thống mở bởi sự tương tác với môi trường bên ngoài về hệ thống văn bản pháp quy, uản trị công ty, tính chất của các loại thị trường tài chính, nguồn nhân lực, hàng hóa dịch vụ. Lợi ích của việc xác lập hệ thống này nhằm giảm thiểu những thua lỗ tiềm tàng do mâu thuẫn về lợi ích giữa c đông và các nhà uản lý. Phương pháp đo lường. Hiệu uả hoạt động của công ty c phần là chỉ tiêu rất uan trọng trong việc ra uyết định kinh doanh hoặc đầu tư đối với các bên liên uan như c đông, chủ nợ, ban giám đốc, nhà cung cấp, người tiêu thụ.Có nhiều chỉ tiêu khác nhau trong các nghiên c u khoa học về hiệu uả hoạt động của công ty.
Cụ thể là nghiên c u LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 của Hult (2008) đã công bố về các loại hình doanh nghiệp kinh doanh uốc tế bao gồm các cấp độ công ty, tập đoàn và đơn vị kinh doanh chiến lược, cho thấy có ba tiêu chí đo lường hiệu uả hoạt động được sử dụng là hiệu uả kinh doanh, hiệu uả tài chính và hiệu uả t ng hợp. Cụ thể, hiệu uả kinh doanh được đo lường bởi thị phần tiêu thụ, tần suất giới thiệu sản phẩm mới và những sáng tạo kinh doanh, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, năng suất lao động, m c độ hài lòng,sự duy trì lực lượng lao động và khách hàng. Hiệu uả tài chính trong nhiều nghiên c u bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên t ng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập c phần thường, lợi nhuận biên, thị giá c phiếu, tăng trưởng doanh thu và Tobin’s Q. Hiệu uả t ng hợp thường bao gồm uy tín, khả năng tồn tại, m c độ đạt được mục tiêu, so sánh với đối thủ cạnh tranh.
Ngoài ra, kết uả nghiên c u của Hult (2008)cho thấyhiệu uả kinh doanh được đo lường ph biến nhất là thị phần (47%); hiệu uả t ng hợp được đo lường ph biến nhất là uy tín (30%); hiệu uả tài chính được đo lường ph biến nhất là chỉ tiêu doanh thu (44%), tỷ suất lợi nhuận trên t ng tài sản - ROA (40%); Tuy nhiên, phần lớn các nghiên c u (44,8%) tập trung khảo sát số liệu ở cấp độ công ty và sử dụng chỉ tiêu tài chính để đo lường hiệu uả. Hiệu uả tài chính trong các nghiên c u khoa học thường được đo lường thông ua các tiếp cận sau: tiếp cận kết hợp, tiếp cận thị trường, tiếp cận từ báo cáo tài chính. Tiếp cận thị trường xem hiệu uả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) vào c phiếu của công ty đang xem xét. Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ số giữa t ng c t c và chênh lệch giá nhận được trong một khoảng thời gian so với vốn đầu tư ban đầu.
Cách tiếp cận này có ưu điểm là có tính thuyết phục cao nhờ dựa trên thu nhập thực tế bằng tiền của nhà đầu tư. Tuy nhiên, thị giá c phiếu chịu ảnh hưởng nhiều bởi tâm lý của nhà đầu tư như tâm lý lạc uan hoặc bi uan về rủi ro thị trường; đặc biệt trên những thị trường ch ng khoán mới phát triển, thị trường kém hiệu uả về mặt thông tin và việc giám sát tuân thủ uy định pháp luật chưa chặt chẽ, nên giá ch ng khoán dễ bị thao túng bởi những hoạt động đầu cơ bất hợp pháp, do đó ROI chưa phải là chỉ tiêu tốt để đo lường hiệu uả hoạt động của công ty. Mặc khác, khi công ty thực hiện các nghiệp vụ tách, gộp c phiếu, phát hành uyền mua c phần, c phiếu thưởng, trả c t c LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 bằng c phiếu sẽ làm thị giá c phiếu bị điều chỉnh tương ng và làm công th c tính toán ROI trở nên rất ph c tạp. Cách tiếp cận th hai là dựa vào thông tin do công ty cung cấp, chủ yếu từ báo cáo tài chính.
Theo cách tiếp cận này, những chỉ tiêu đo lường hiệu uả tài chính chủ yếu là các tỷ suất lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE),tỷ suất lợi nhuận trên t ng tài sản (ROA).Đặc biệt, hai chỉ tiêu này có uan hệ với nhau vì ROE khuyếch đại ROA thông ua đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, để đo lường hiệu uả hoạt động trong nghiên c u thì chỉ tiêu ROA toàn diện hơn do đề cập đến khả năng khai thác toàn bộ tài sản của công ty. Ưu điểm của cách tiếp cận này là dễ tính toán chỉ tiêu, nhưng nhược điểm lại nằm ở tính sẵn có và tính chính xác, trung thực của thông tin từ báo cáo tài chính. Cách tiếp cận th ba là cách kết hợp cả hai khía cạnh thị trường và công ty, các nhà nghiên c u thường sử dụng chỉ tiêu Tobin’s Q hoặc tỷ số thị giá/giá s sách (PBV).
Tobin’s Q được tính bằng tỷ số giữa giá thị trường của tài sản với giá trị thay thế của tài sản. (2004) đã đề xuất cách tính Tobin’s Q: giá thị trường của tài sản được tính bằng cách cộng giá s sách của tài sản với giá thị trường của c phiếu đang lưu hành, sau đó trừ đi giá s sách của c phiếu lưu hành, còn giá trị thay thế của tài sản được tính bằng giá s sách của tài sản. Chỉ tiêu PBV tương tự như Tobin’s Q, nhưng không tính trên t ng tài sản, mà chỉ so sánh giá thị trường và giá s sách của vốn chủ sở hữu, do đó PBV chưa được toàn diện bằng Tobin’s Q. Chỉ tiêu Tobin’s Q phụ thuộc vào các giá trị vô hình của công ty, niềm tin của thị trường đối với tương lai của công ty và phương pháp hạch toán giá trị s sách của tài sản.
Ưu điểm của chỉ tiêu này là dễ tính toán, giúp nhận dạng và ước lượng giá trị vô hình không được ghi nhận trong báo cáo tài tài chính nhưng nhược điểm nằm ở tâm lý nhà đầu tư và khả năng tuân thủ chuẩn mực kế toán. Như vậy hiệu uả hoạt động của công ty được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào nguồn dữ liệu và đối tượng khảo sát. Mỗi cách tính đều có ưu nhược điểm của nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số yếu tố chính tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu được hiểu là cấu trúc góp vốn trong công ty. Đối với các công ty đại chúng, c đông nhỏ thường phải trông cậy vào tinh thần trách nhiệm và sự minh bạch của những người trực tiếp điều hành để kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.
Vì thế, trong công bố thông tin cần có sự kiểm tra, giám sát tính minh bạch, nhằm giúp c đông có thể xác định m c độ sở hữu và kiểm soát của những người kiểm soát thật sự trong công ty đại chúng. Có nhiều thông tin uan trọng về hoạt động doanh nghiệp, “Ai thật sự là người kiểm soát công ty” là thông tin vô cùng uan trọng cho c đông bởi họ là đại diện cho tinh thần trung thực và minh bạch của một công ty đại chúng, cũng như có thể cho thấy liệu công ty có bị thao túng hay không. Tuy nhiên, nếu cấu trúc sở hữu và liên kết sở hữu của các công ty không được công bố một cách đầy đủ thì không dễ nhận biết được người kiểm soát thật sự hay người kiểm soát sau cùng của một công ty đại chúng. Cấu trúc sở hữu phân tán và sở hữu tập trung.
Nếu phân theo uyền kiểm soát, cấu trúc sở hữu được phân thành hai loại sở hữu: sở hữu phân tán, sở hữu tập trung. Trong đó: Sở hữu tập trung là hình th c sở hữu mà cả uyền kiểm soát lẫn uyền sở hữu tập trung vào tay một số cá nhân, gia đình, Ban uản lý, hoặc các định chế cho vay (người bên trong). Những cá nhân và nhóm này thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách th c vận hành của công ty. Do đó, cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ.
Những c đông lớn kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng uản trị và ban điều hành.