Chương 1 đưa ra các khái niệm cơ bản về FDI, quản lý nhà nước và phân cấp quản lý nhà nước về FDI, các tác động tích cực cũng như các nguy cơ có thể xảy ra khi tiến hành phân cấp. Chương này cũng nêu ra kinh nghiệm và thực tiễn tiến hành phân cấp quản lý nhà nước ở một số quốc gia thuộc Cộng đồng Châu Âu như Anh, Pháp và kinh nghiệm phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc, Indonesia. Qua đó, tác giả sẽ nêu ra một số bài học cho Việt Nam Chương 2: Thực trạng phân cấp quản lý FDI ở Việt Nam. Trong chương 2, tác giả tập trung phân tích thực trạng phân cấp quản lý về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trên hai góc độ chính: đó là quá trình phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài (thể hiện qua quá trình ban hành luật pháp, chính sách về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài) thông qua hai khu vực chủ yếu là phân cấp quản lý đối với các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và các đặc khu kinh tế cũng như quá trình phân cấp quản lý bên ngoài các KCN, KCX và KKT.
Chương 2 cũng phân tích kết quả thu hút FDI tương ứng với quá trình phân cấp quản lý và rút ra một số nhận định về kết quả thực hiện phân cấp quản lý. Chương 3: Một số giải pháp cải thiện việc phân cấp quản lý FDI tại Việt Nam: Trong chương 3, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài đối với các cơ quan quản lý đầu tư ở cấp trung ương và địa phương. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ FDI 1.1 Tổng quan chung về FDI Cho tới nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm FDI, mỗi ý kiến tiếp nhận từ một góc độ nhất định. Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư.
[1, tr30] Thông thường có thể hiểu FDI là việc các nhà đầu tư (tư nhân hoặc pháp nhân) đưa vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…nhằm thu được lợi nhuận và đạt được những hiệu quả xã hội. FDI được xem như một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu cũng là người trực tiếp quản lý hoạt động sử dụng vốn. FDI là sự đầu tư nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ một phần hay toàn bộ cơ sở đó. Do đó, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực mà họ muốn sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp điều hành đối với đối tượng họ đã đầu tư.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng đưa ra một khái niệm về FDI năm 1977: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình mà nhà đầu tư thực hiện công việc đầu tư kinh doanh hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của mình nhằm thu về những lợi ích lâu dài. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp”. [16] Định nghĩa này bao quát rằng nhà đầu tư có thể đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ không được coi là quốc gia, hay là từ nơi mà được hưởng các quy chế đặc biệt như là các đặc khu kinh tế, các vùng kinh tế đặc biệt trong các quốc gia. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay là một hiện tượng phổ biến và được coi là một trong những biểu hiện mạnh mẽ nhất của quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
Quá trình này diễn ra không những từ các nước phát triển với nhau mà sang cả các nước đang phát triển, giữa các nước đang phát triển với nhau, và từ các nước đang phát triển sang cả các nước phát triển. Hiện nay, các nhà đầu tư thường tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài, và các chính phủ tham gia ngày càng tích cực vào việc thu hút vốn FDI và khuyến khích đầu tư của doanh nghiệp trong nước ra nước ngoài. Đối với các công ty đa quốc gia, có nhiều lý do giải thích cho hoạt động đầu tư của chúng vào các nước bao gồm việc tìm kiếm thị trường, tránh đầu tư tập trung vào một địa điểm để phải chịu nhiều loại rủi ro và trốn thuế. Định nghĩa này đề cao động cơ của nhà đầu tư và phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp.
Đầu tư gián tiếp có đặc trưng cơ bản là thu lợi nhuận từ việc mua bán tài sản, tài chính, vay mượn. nước ngoài, nhưng nhà đầu tư không tham gia vào quá trình quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế khác cũng có những cách tiếp cận tương tự. Dominick Salvatore định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư vào nhà máy, các hàng hoá đầu tư, đất đai, hàng tồn kho, ở đó quyền quản lý và tư bản cùng tồn tại còn nhà đầu tư giữ quyền quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư đó”.
[36] Còn Synthia Day Wallace đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay giành được quyền sở hữu đáng kể trong một công ty ở nước ngoài hay một sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư ra nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kể”. 32] Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư quốc tế trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, để họ có thể giành được quyền trực tiếp điều hành hoạt động đầu tư, cùng các đối tác nước sở tại chia sẻ rủi ro và hưởng lợi nhuận. Với một nước dồi dào về vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài có hai chiều. Chiều thứ nhất là chuyển những lĩnh vực kinh doanh đang giảm lợi nhuận ra nước ngoài, kéo dài vòng đời của lĩnh vực đó, và đem lại một nguồn cung đều đặn các sản phẩm mà trong nước đang cần.
Chiều thứ hai là tập trung thu hút nguồn nhân lực và tư bản nước ngoài tiến hành các hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực có triển vọng. Nước giàu vốn còn đặt ra những yêu cầu khác như bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia. Với một nước đang phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài là một cơ hội để tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho ngân sách, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, khai thác nhiều nguồn lực đang ở dạng tiềm năng như giá trị bất động sản, tìm kiếm thị trường nước ngoài và các năng lực nhiều ngành nghề khác của con người. Đối với công ty, đó lại là cơ hội để tạo được các giá trị mới, tiến hành những công việc mang lợi ích trước mắt và lâu dài, có thể tiến hành thăm dò, chuẩn bị sức mạnh để khai thác tiềm năng mới.
Như vậy, có thể định nghĩa rằng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc một đối tác nước ngoài đưa vốn vào một nước và trực tiếp tham gia điều hành để trực tiếp đạt được một mục đích nào đó hoặc để thực hiện một chính sách nào đó về kinh tế, chính trị, tuỳ theo mục đích, địa vị và những tính toán của mình. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những loại hình đầu tư quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là những năm 90, vốn đầu tư FDI đã có nhiều thay đổi, trong đó có các xu hướng như sau: Trong thập kỷ 50-60, luồng vốn đầu tư trực tiếp tập trung vào các nước đang phát triển (chiếm khoảng 70% tổng số vốn đầu tư), phần còn lại vào các nước tư bản phát triển thì những thập kỷ gần đây, đặc biệt là đầu thập kỷ 90, tỷ lệ đó đã thay đổi cơ bản theo hướng ngược lại. Hầu hết FDI được thực hiện trong những khu vực có tương đối nhiều vốn của thế giới.
Dòng vốn FDI không chảy từ nơi nhiều vốn sang nơi ít vốn mà lại chảy chủ yếu vào các khu vực các nước công nghiệp phát triển. Tỷ lệ vốn đầu tư vào các nước đang phát triển hiện chỉ chiếm dưới 30%. Do những ưu thế và khoảng cách địa lý và các điều kiện tương đồng, nên FDI chủ yếu được thực hiện giữa các nước trong cùng một khu vực. Có thể lấy ví dụ các NIEs là những nhà đầu tư lớn ở các nước trong khu vực Châu Á, nhất là Đông Nam Á.
Tương quan lực lượng giữa các nước đầu tư quốc tế đã có những thay đổi lớn. Ngày nay không còn tình trạng chỉ có một trung tâm phát ra luồng vốn tư bản đầu tư như trước. Nếu ở đầu thế kỷ 20, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan là những nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu vốn ra nước ngoài thì đến giữa thế kỷ Mỹ nhảy lên dẫn đầu, sau đó đến Anh, Pháp. Đến thập kỷ 90, với sự xuất hiện của các NIEs nhất là các NIEs Châu Á, với sự vươn lên của Nhật Bản, Tây Âu thì tính chất một cực đã biến mất.
Nhật Bản vươn lên vị trí hàng đầu, sau đó là Pháp, Mỹ xuống thứ ba trong xuất khẩu FDI cả về số vốn tuyệt đối lẫn tỷ trọng. Ngoài ra còn xuất hiện một xu hướng nhiều chủ đầu tư cùng tham gia vào một chương trình đầu tư. Hiện tượng này khá phổ biến ở các nước phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực xí nghiệp liên doanh. Đây cũng chính là hiện tượng đặc thù trong liên doanh, không chỉ nhiều bên với tỷ lệ cổ phần khác nhau mà còn gồm nhiều loại hình tư bản (tư bản nhà nước liên minh với tư bản tư nhân).
Lĩnh vực đầu tư cũng có nhiều thay đổi sâu sắc với sự phát triển của nền kinh tế thế giới dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, các ngành và lĩnh vực có sự hấp dẫn không giống nhau đối với luồng đầu tư tư bản. Đầu thế kỷ trước, các nước đầu tư thường hướng vào các lĩnh vực truyền thống như khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông nghiệp, chế biến nông sản., chủ yếu hướng vào các ngành cần nhiều lao động để khai thác nguồn nhân công rẻ và nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nước khác.