Tổng quan luận án

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra với quy mô toàn cầu và tác động trực tiếp đến nhiều ngành kinh tế, trong đó ngành sản xuất và phân phối điện chịu ảnh hưởng nặng nề ở cả phía cung lẫn phía cầu. Tại Việt Nam, theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 1958 đến năm 2014, nhiệt độ trung bình đã tăng 0,6°C; các hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán và mưa bão có xu hướng gia tăng, đe dọa nguồn nước phục vụ thủy điện và làm tăng tổn thất trong truyền tải điện. Song song với thách thức môi trường, ngành điện Việt Nam trải qua quá trình tái cơ cấu mạnh mẽ khi chuyển dịch từ mô hình độc quyền sang thị trường phát điện cạnh tranh từ năm 2009, gắn liền với tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: hầu hết các công trình nghiên cứu định lượng trước đây về BĐKH và cấu trúc sở hữu tập trung vào các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Châu Âu), nơi các doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn. Tại các nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi, nơi doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối phần lớn sản lượng phát điện (tại Việt Nam, tỷ lệ sở hữu nhà nước tại 32 công ty phát điện niêm yết bình quân từ 45% đến 52%), các bằng chứng thực nghiệm lượng hóa đồng thời tác động của BĐKH, cấu trúc sở hữu và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước lên hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của công ty phát điện còn rất hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:

  1. Kiểm định ảnh hưởng của BĐKH đến HQHĐ của các công ty phát điện tại Việt Nam.
  2. Kiểm định ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến HQHĐ của các công ty phát điện.
  3. Kiểm định vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước khi thực hiện ứng phó với BĐKH tại các công ty phát điện ảnh hưởng đến HQHĐ.
  4. Đề xuất một số hàm ý chính sách đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước của ngành điện Việt Nam, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của BĐKH.

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi i: BĐKH tác động như thế nào đến HQHĐ công ty phát điện? Mối quan hệ giữa hai yếu tố này cùng chiều hay ngược chiều?
  • Câu hỏi ii: Đối với ngành mà yêu cầu vốn đầu vào là rất lớn, thời gian hoàn vốn dài thì sự can thiệp của thành phần sở hữu nhà nước sẽ là động lực thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các công ty phát điện hay lại là trở ngại? Theo đó, việc thực hiện Lộ trình tái cơ cấu ngành điện hoặc thực hiện cổ phần hóa các đơn vị có phần vốn Nhà nước hoạt động trong ngành điện có thực sự là giải pháp hợp lý?
  • Câu hỏi iii: Khi mở cửa lĩnh vực kinh doanh phát điện cho tư nhân tham gia và thúc đẩy phát triển công nghiệp, các quốc gia như Việt Nam có thực hiện vai trò điều tiết giúp kiểm soát BĐKH nói chung và giúp các công ty có vốn chi phối của nhà nước giảm tác động bất lợi của BĐKH như các nền kinh tế phát triển hay không?
  • Câu hỏi iv: Có các đề xuất cụ thể gì đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước ngành điện Việt Nam, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của BĐKH?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của các công ty phát điện và các yếu tố tác động (BĐKH, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản, quy mô công ty, chi phí đại diện).
  • Phạm vi không gian: 32 công ty phát điện đang niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán Việt Nam (HOSE, HNX, UPCOM) và các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học trong ngành năng lượng tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu báo cáo tài chính và dữ liệu khí tượng giai đoạn 2006 – 2016; các chỉ số BĐKH được tính toán dựa trên mức độ sai lệch so với mốc trung bình 50 năm trước đó.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các nhánh nghiên cứu quốc tế và trong nước liên quan đến các vấn đề cốt lõi của đề tài:

Nhánh nghiên cứu về tác động của BĐKH và môi trường đến kết quả kinh doanh, giá trị doanh nghiệp:

  • Các nghiên cứu ban đầu về phản ứng thị trường đối với thông tin môi trường như Hamilton (1995), Klassen và McLaughlin (1996), Khanna và ctg. (1998), Konar và Cohen (1996), Hart và Ahuja (1996) chỉ ra các sự kiện ô nhiễm hoặc phát thải độc hại làm giảm giá trị vô hình và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu.
  • Delmas và Nairn-Birch (2010) khi nghiên cứu 1.100 công ty tại Mỹ phát hiện phát thải khí nhà kính có tác động cùng chiều đến ROA nhưng tác động ngược chiều đến Tobin's Q. Iwata và Okada (2011) tại Nhật Bản ghi nhận giảm phát thải carbon làm tăng hiệu quả tài chính bền vững (ROE). Ziegler và cộng sự (2009) tại Mỹ và Châu Âu, Eleftheriadis và cộng sự (2012) tại Hy Lạp, Horváthová (2012) tại Séc đều xác nhận mối quan hệ giữa công tác quản trị rủi ro khí hậu và hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
  • Về cung cầu năng lượng dưới tác động của nhiệt độ và lượng mưa: Mideksa và Kallbekken (2010), Wang và ctg. (2014), Benestad (2008), Considine (1999, 2000), De Cian và ctg. (2007), Eskeland và Mideksa (2009), Mansur và ctg. (2008), Barnett và ctg. (2004), Van Rheenen và ctg. (2003), Bye (2008) chỉ ra nhiệt độ tăng làm tăng nhu cầu làm mát (doanh thu điện tăng) nhưng cũng làm gia tăng tổn thất truyền tải và chi phí vận hành; biến động lượng mưa làm thay đổi lưu lượng dòng chảy hồ thủy điện. Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Bảo (2012), Ngô Đức Thành và Phan Văn Tân (2012) đã phân tích xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa và tác động của dòng chảy đến các nhà máy thủy điện Trị An, Tuyên Quang, Hủa Na.

Nhánh nghiên cứu về cấu trúc sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động:

  • Thomsen và Pedersen (2000), Ongore (2011), Bhatti và Sarwet (2012), Megginson và Netter (2001), Djankov và Murrell (2002) chứng minh sở hữu nhà nước có quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động do tính quan liêu và chi phí đại diện cao.
  • Ngược lại, Tian và Estrin (2008) tại Trung Quốc phát hiện mối quan hệ phi tuyến chữ U giữa sở hữu nhà nước và giá trị công ty (sở hữu nhà nước trên 25% làm tăng hiệu quả). Li và ctg. (2009) chỉ ra tác động phụ thuộc vào mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Le và Buck (2011) nhận định sở hữu nhà nước có thể là tài sản chiến lược giúp giảm chi phí đại diện trong một số bối cảnh. Kole và Mulherin (1997) tại Mỹ cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa công ty có vốn nhà nước và công ty tư nhân khi có cơ chế giám sát và môi trường cạnh tranh bình đẳng.
  • Về vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước trong ứng phó BĐKH: Clò và ctg. (2017) nghiên cứu ngành điện Châu Âu giai đoạn 1990–2012, chỉ ra các DNNN ngành điện chấp nhận mức sinh lợi thấp hơn mức trung bình để thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.

Nhánh nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam:

  • Hoàng và ctg. (2014) khảo sát ngành xây dựng niêm yết, ghi nhận kết quả hoạt động tương quan ngược với sở hữu nhà nước và có dạng chữ U ngược. Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2014) phân tích các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến ROA, ROE của doanh nghiệp bất động sản. Đoàn Vinh Thăng (2016) nghiên cứu 2.888 công ty cổ phần có vốn nhà nước, chỉ ra cấu trúc vốn và HQHĐ có mối quan hệ chữ U ngược và sở hữu nhà nước làm suy yếu tác động của nợ lên hiệu quả.

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách kết hợp đồng thời hai chiều kích BĐKH và cấu trúc sở hữu trong cùng một mô hình thực nghiệm dành riêng cho ngành phát điện tại một quốc gia chuyển đổi như Việt Nam, kiểm định trực tiếp vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước trong việc giảm nhẹ tác động bất lợi của BĐKH đến hiệu quả tài chính và chi phí vận hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các nền tảng lý thuyết:

  • Lý thuyết hiệu quả hoạt động: Khái niệm HQHĐ là tỷ số giữa kết quả đầu ra và chi phí nguồn lực đầu vào (Adam Smith, 1776; Marshall, 1920; Samuelson và Nordhaus, 2011; Daft, 2008; Ngô Đình Giao, 1984; Nguyễn Văn Tạo, 2004; Bùi Thanh Phong, 2010). Đo lường thông qua các chỉ tiêu kế toán (ROA, ROE), chỉ tiêu thị trường (Tobin's Q) và chỉ tiêu chi phí (giá vốn hàng bán trên doanh thu - COR).
  • Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM - Markowitz, 1959) và lý thuyết rủi ro môi trường: Xem BĐKH như một loại rủi ro hệ thống hoặc "rủi ro sinh thái" (Esty và Simmons, 2011; Schwartz, 2007) và có thể mang tính chất của "sự kiện thiên nga đen" (Taleb, 2007) tác động trực tiếp đến dòng tiền, chi phí vận hành và giá trị vốn hóa của doanh nghiệp năng lượng.
  • Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Theory - Berle và Means, 1932; Jensen và Meckling, 1976; La Porta và ctg., 1999): Giải thích mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông nhà nước, cổ đông thiểu số và nhà điều hành, dẫn đến sự kém hiệu quả hoặc thất thoát chi phí trong doanh nghiệp có vốn nhà nước.
  • Lý thuyết cấu trúc vốn (Modigliani và Miller, 1958, 1963): Tác động của đòn bẩy tài chính và lá chắn thuế đến HQHĐ và giá trị doanh nghiệp.
  • Giả thuyết đánh đổi về tính thanh khoản (Saleem và Rehman, 2011; Raheman và Nasr, 2007): Mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ thanh toán hiện hành và hiệu quả sinh lợi.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính:

  1. Nghiên cứu định lượng:
    • Dữ liệu bảng (panel data) thu thập từ 32 công ty phát điện niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 11 năm (2006–2016).
    • Kỹ thuật ước lượng: Phương pháp ước lượng đơn phương trình theo mô hình tác động cố định (FEM) và phương pháp ước lượng hệ phương trình theo mô hình GMM hệ thống (System GMM) nhằm kiểm soát hiện tượng tự tương quan và tính nội sinh của các biến giải thích.
    • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính kiểm toán của các công ty phát điện từ HOSE, HNX, UPCOM; dữ liệu nhiệt độ và lượng mưa hàng năm từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) và Cổng thông tin về biến đổi khí hậu của Ngân hàng Thế giới (CCKP), tính toán độ lệch so với trung bình 50 năm.
  2. Nghiên cứu định tính:
    • Phỏng vấn sâu các chuyên gia năng lượng, nhà khoa học tại các trường đại học, viện nghiên cứu, đơn vị tư vấn thiết kế điện (Tư vấn điện 2), cán bộ quản lý tại Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương), lãnh đạo các Tổng công ty Phát điện (GENCO1, GENCO2, GENCO3), Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Nhà máy Thủy điện Trị An, Ban Quản lý dự án thủy điện 6.
Nhóm biến Tên biến Ký hiệu Cách đo lường / Ý nghĩa
Biến phụ thuộc (HQHĐ) Tỷ suất sinh lợi trên tài sản ROA Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản
Tỷ suất sinh lợi trên vốn CSH ROE Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Giá trị thị trường Tobin's Q (TQ) (Giá trị thị trường vốn CSH + Nợ phải trả) / Tổng tài sản
Tỷ lệ giá vốn hàng bán COR Giá vốn hàng bán / Doanh thu thuần
Biến độc lập chính Biến đổi khí hậu BĐKH Chênh lệch nhiệt độ, lượng mưa năm so với trung bình 50 năm
Tỷ lệ sở hữu nhà nước SHNN Tỷ lệ phần trăm vốn nhà nước nắm giữ tại công ty phát điện
Biến tương tác SHNN * BĐKH Tác động điều tiết của sở hữu nhà nước trong ứng phó BĐKH
Biến kiểm soát Chi phí đại diện Agency Cost Chi phí quản lý doanh nghiệp và bán hàng / Doanh thu
Đòn bẩy tài chính LEV Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản
Khả năng thanh toán LIQ Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn
Quy mô công ty SIZE Logarit tự nhiên của tổng tài sản
Chi tiêu vốn CAPEX Mức đầu tư tài sản cố định hàng năm

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

Chương này trình bày bối cảnh nghiên cứu về xu thế gia tăng nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan tại Việt Nam dựa trên báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nhiệt độ giai đoạn 1958–2014 tăng 0,6°C) và dự báo tổn thất kinh tế từ nghiên cứu của CIEM, WIDER và Đại học Copenhagen (2012). Tác giả phân tích đặc điểm chuyển đổi của thị trường điện Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang thị trường phát điện cạnh tranh vận hành từ năm 2009. Chương 1 xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu, 4 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng khảo sát gồm 32 công ty phát điện niêm yết giai đoạn 2006–2016, đồng thời nêu rõ tính cấp thiết và kết cấu 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Tác giả tổng quan các lý thuyết kinh tế về hiệu quả hoạt động, mô hình CAPM, lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết cấu trúc vốn MM và cơ chế BĐKH tác động đến năng lượng. Luận án phân tích chi tiết hai kênh tác động của BĐKH lên ngành điện:

  • Kênh cầu: Nhiệt độ tăng làm gia tăng số ngày nắng nóng, thúc đẩy nhu cầu sử dụng điện làm mát (tham chiếu các nghiên cứu của Benestad, 2008; Considine, 2000; De Cian và ctg., 2007; Eskeland và Mideksa, 2009).
  • Kênh cung và truyền tải: Thay đổi lượng mưa và bốc hơi ảnh hưởng trực tiếp đến lưu lượng nước về các hồ thủy điện (tham chiếu Barnett và ctg., 2004; Nguyễn Minh Bảo, 2012); nhiệt độ môi trường tăng làm tăng điện trở đường dây và tổn thất máy biến áp (Nguyễn Minh Bảo, 2012; Eskeland và ctg., 2008).

Chương 2 thiết lập các giả thuyết nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa BĐKH, tỷ lệ sở hữu nhà nước, biến tương tác, chi phí đại diện, đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản, quy mô doanh nghiệp với các biến đo lường HQHĐ (ROA, ROE, Tobin's Q, COR).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu hỗn hợp. Phần định lượng xây dựng các phương trình hồi quy tuyến tính và phi tuyến dạng đa biến trên dữ liệu bảng của 32 công ty phát điện niêm yết (2006–2016). Tác giả trình bày quy trình ước lượng đơn phương trình bằng mô hình FEM và hệ phương trình bằng mô hình System GMM nhằm giải quyết triệt để khuyết tật tự tương quan và nội sinh. Phần định tính xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn sâu gửi đến các chuyên gia đầu ngành, lãnh đạo các Tổng công ty phát điện (GENCO1, 2, 3), các nhà máy thủy điện lớn (Hòa Bình, Trị An) và các nhà quản lý chính sách tại Cục Điều tiết Điện lực nhằm đối soát và giải thích cơ chế kinh tế đằng sau kết quả thống kê.

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4 báo cáo kết quả thống kê mô tả, ma trận tương quan cặp và kết quả ước lượng hồi quy thực nghiệm:

  • Mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp hơn mô hình phi tuyến: BĐKH có tác động rõ rệt đến HQHĐ, giá trị thị trường và chi phí giá vốn của công ty phát điện. Tùy thuộc vào thước đo (nhiệt độ hay lượng mưa), mối quan hệ có thể cùng chiều hoặc ngược chiều (lượng mưa tăng tạo thuận lợi cho sản lượng thủy điện giúp tăng sinh lợi, nhiệt độ tăng cực đoan làm tăng chi phí vận hành và tổn thất truyền tải).
  • Tác động của sở hữu nhà nước: Tỷ lệ sở hữu nhà nước cao có mối quan hệ ngược chiều với ROA, ROE và Tobin's Q, đồng thời làm tăng chi phí giá vốn (COR). Kết quả kiểm định chi phí đại diện cho thấy chi phí đại diện cao làm suy giảm HQHĐ.
  • Vai trò điều tiết: Biến tương tác giữa sở hữu nhà nước và BĐKH mang dấu dương có ý nghĩa thống kê trong một số mô hình, phản ánh các công ty có vốn nhà nước chi phối khi thực thi các giải pháp ứng phó BĐKH có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, chính sách hỗ trợ từ Chính phủ và EVN tốt hơn các doanh nghiệp tư nhân thuần túy.
  • Kết quả phỏng vấn chuyên gia: Xác nhận sự phù hợp của các kết quả thực nghiệm, đồng thuận rằng việc giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước cần đi kèm với cải cách quản trị và áp dụng cơ chế kiểm soát chi phí đại diện minh bạch.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương này tổng hợp các phát hiện chính từ kết quả định lượng và định tính, khẳng định tính tương thích giữa lý thuyết và thực tiễn ngành điện Việt Nam. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách phân theo 3 nhóm đối tượng: các nhà quản trị công ty phát điện, các nhà đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, EVN, Cục Điều tiết Điện lực) trong lộ trình phát triển thị trường điện cạnh tranh. Chương kết thúc bằng việc chỉ ra các hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả và đóng góp mới của luận án được tác giả đúc kết:

  1. Về mặt lý luận:

    • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm vào khoảng trống nghiên cứu về tác động của BĐKH đến HQHĐ và giá trị doanh nghiệp tại các nền kinh tế chuyển đổi. Luận án chỉ ra BĐKH là yếu tố rủi ro hệ thống ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và chi phí giá vốn của công ty phát điện.
    • Làm rõ vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước: Khác với kết quả tại Châu Âu của Clò và ctg. (2017) (nơi DNNN giảm hiệu quả do gánh vác trách nhiệm môi trường), tại Việt Nam, các công ty có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao khi thực hiện các biện pháp ứng phó BĐKH có thể đạt HQHĐ cao hơn nhờ khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ vốn ưu đãi và cơ chế điều độ từ hệ thống điện quốc gia.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Chứng minh thực nghiệm rằng tỷ lệ sở hữu nhà nước quá cao và sự gia tăng chi phí đại diện là rào cản làm giảm hiệu quả sinh lợi (ROA, ROE) và làm tăng tỷ lệ chi phí giá vốn (COR) tại các công ty phát điện Việt Nam.
    • Khẳng định tiến trình cổ phần hóa và hình thành thị trường phát điện cạnh tranh là hướng đi đúng đắn, nhưng việc cắt giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước một cách đơn lẻ mà không đi kèm cơ chế quản trị minh bạch và kiểm soát chi phí đại diện sẽ không tự động nâng cao HQHĐ.
  3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

    • Đối với cấp quản lý công ty phát điện: Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó BĐKH, đầu tư công nghệ dự báo thủy văn và nhiệt độ cục bộ; tái cấu trúc chi phí vận hành, kiểm soát chặt chẽ chi phí đại diện (chi phí quản lý và bán hàng); tối ưu hóa cơ cấu vốn nhằm khai thác lá chắn thuế hợp lý.
    • Đối với các nhà đầu tư: Đưa yếu tố rủi ro khí hậu (vị trí nhà máy, loại hình phát điện) và cơ cấu sở hữu vào mô hình định giá cổ phiếu điện; quan tâm đến khả năng thích ứng thời tiết của doanh nghiệp.
    • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực, EVN): Đẩy nhanh lộ trình thị trường bán buôn và bán lẻ điện cạnh tranh; hoàn thiện khung pháp lý về giá điện phản ánh đúng chi phí môi trường và BĐKH; thiết lập mức trần chi phí đại diện hợp lý trong doanh nghiệp có vốn nhà nước; ban hành cơ chế khuyến khích tài chính và vốn vay ưu đãi cho các dự án phát điện áp dụng công nghệ sạch, thích ứng tốt với BĐKH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở 32 công ty phát điện niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2006–2016, chưa bao quát toàn bộ các nhà máy điện độc lập (IPP), nhà máy điện BOT hoặc các nhà máy điện chưa niêm yết thuộc EVN.
  • Dữ liệu khí tượng (nhiệt độ, lượng mưa) sử dụng ở mức độ tổng hợp theo năm và theo vùng từ GSO và CCKP của Ngân hàng Thế giới, chưa bóc tách chi tiết theo chuỗi dữ liệu vi khí hậu hàng ngày/hàng tháng tại chính xác tọa độ địa lý của từng lưu vực hồ thủy điện hoặc vị trí nhà máy nhiệt điện.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mẫu quan sát sang giai đoạn sau năm 2016 khi thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) chính thức vận hành.
  • Thu thập dữ liệu khí tượng vi mô theo chuỗi thời gian tần suất cao (tháng, quý) tại từng lưu vực nhà máy; mở rộng nghiên cứu sang các nguồn năng lượng tái tạo mới như điện mặt trời và điện gió.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Năng lượng: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (FEM, System GMM) với dữ liệu phi tài chính (khí tượng vĩ mô) và phỏng vấn chuyên gia sâu (Chương 2, Chương 3, Chương 4).
  • Lãnh đạo và nhà quản trị các công ty phát điện: Tham khảo khung phân tích rủi ro khí hậu tác động đến giá vốn và tỷ suất sinh lợi để lập kế hoạch kinh doanh, quản trị chi phí đại diện và cấu trúc vốn (Chương 4, Chương 5).
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách ngành năng lượng (Bộ Công Thương, EVN, Cục Điều tiết Điện lực): Tham khảo các căn cứ thực nghiệm để hoàn thiện chính sách thị trường phát điện cạnh tranh, quy chế quản lý vốn nhà nước và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp năng lượng thích ứng BĐKH (Chương 5, Phụ lục 1).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những chỉ tiêu cụ thể nào để đo lường biến đổi khí hậu và hiệu quả hoạt động của công ty phát điện?
Luận án đo lường BĐKH thông qua độ chênh lệch của nhiệt độ trung bình năm và lượng mưa trung bình năm so với mức trung bình của 50 năm trước đó (thu thập từ GSO và Cổng thông tin CCKP của Ngân hàng Thế giới). HQHĐ được đo lường toàn diện qua 4 chỉ tiêu: tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), hệ số giá trị thị trường Tobin's Q (TQ, TQ70, TQ80) và tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần (COR).

2. Kết quả thực nghiệm về tác động của tỷ lệ sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động của các công ty phát điện tại Việt Nam như thế nào?
Kết quả ước lượng bằng cả mô hình FEM và System GMM cho thấy tỷ lệ sở hữu nhà nước cao có tác động ngược chiều đến ROA, ROE, Tobin's Q và làm tăng tỷ lệ chi phí giá vốn (COR). Kết quả phân tích chi phí đại diện cũng chỉ ra rằng chi phí đại diện càng lớn thì hiệu quả hoạt động càng suy giảm, cho thấy sự can thiệp và nắm giữ tỷ lệ vốn nhà nước lớn tạo ra sức ỳ và chi phí quản lý cao.

3. Vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước trong việc kiểm soát tác động của biến đổi khí hậu được luận án phát hiện ra sao?
Trái ngược với các phát hiện tại Châu Âu (nơi DNNN có hiệu quả thấp hơn khi gánh vác trách nhiệm môi trường), tại Việt Nam, biến tương tác giữa sở hữu nhà nước và BĐKH cho thấy các công ty có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao khi chủ động ứng phó BĐKH lại có HQHĐ tốt hơn. Nguyên nhân là nhờ các doanh nghiệp này có ưu thế tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi của nhà nước/tổ chức quốc tế và nhận được sự hỗ trợ điều độ từ hệ thống điện quốc gia.

4. Tại sao tác giả sử dụng phương pháp GMM hệ thống (System GMM) bên cạnh mô hình tác động cố định (FEM)?
Mô hình FEM xử lý được các yếu tố không quan sát được cố định theo thời gian nhưng chưa giải quyết được hoàn toàn khuyết tật tự tương quan và hiện tượng nội sinh giữa các biến tài chính trong mô hình. Phương pháp System GMM trên dữ liệu bảng giúp khắc phục các hạn chế này, đảm bảo các hệ số ước lượng thu được không bị chệch và có độ tin cậy thống kê cao.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Quốc Bảo (2019) đã cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm về tác động của biến đổi khí hậu và cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của 32 công ty phát điện niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006–2016. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (FEM, System GMM) và phỏng vấn sâu chuyên gia, công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ đa chiều giữa rủi ro thời tiết, chi phí đại diện và tỷ lệ sở hữu nhà nước trong bối cảnh tái cơ cấu thị trường điện. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp phát điện, hoạch định chính sách thị trường năng lượng và thiết lập chiến lược ứng phó biến đổi khí hậu tại các nền kinh tế chuyển đổi.