Chương 1 trình bày những khái niệm chủ chốt, những vấn đề lý luận có liên quan mật thiết đến nội dung nghiên cứu của luận văn. Chương 2 được sử dụng để phân tích tác động biến đổi xã hội của công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến với phát triển nông thôn Việt Nam. Trong chương này, thông qua nghiên cứu thực tế, tác giả phân tích tác động tích cực về nhiều mặt của công nghệ thích hợp mà cụ thể là công nghệ Khí sinh học và Bếp đun cải tiến đang được ứng dụng triển khai tại nông thôn Việt Nam. Trên cơ sở phân tích của chương 2, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp phát triển và ứng dụng công nghệ thích hợp ở nông thôn Việt Nam trong chương 3.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn Một khái niệm có cấu trúc gồm hai phần, nội hàm và ngoại diên, nội hàm là những thuộc tính, bản chất tạo thành khái niệm, còn ngoại diên là tất cả những các thể có chứa những thuộc tính mà khái niệm chứa đựng. Nếu xét ở góc độ phân tích khái niệm, định nghĩa một khái niệm chỉ mới cho biết nội hàm của khái niệm đó, còn phân loại sẽ cho biết ngoại diên khái niệm.
Trước khi tiến hành trình bày những nội dung cơ sở lý thuyết của luận văn này, tác giả xin đề nghị một cách hiểu thống nhất đối với một số khái niệm công cụ quan trọng được sử dụng trong nghiên cứu, đó là các khái niệm: Biến đổi xã hội, công nghệ, công nghệ thích hợp, công nghệ Khí sinh học, công nghệ Bếp đun cải tiến. Việc thống nhất một cách hiểu chung đối với những khái niệm công cụ vừa nêu là rất cần thiết để tạo cơ sở vững chắc trong việc hiểu rõ những nội dung sẽ đưa ra phân tích trong luận văn này. Khái niệm biến đổi xã hội Biến đổi xã hội (tiếng Anh: Social change) “Là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian”2. Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi.
Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện thường ngày. Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực khác, không ngừng vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một 2 http://vi.org: Bách Khoa toàn thư, Biến đổi xã hội, ngày 04.2010 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục.
Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội, như: Phạm vi rộng: biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước; Phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội; Riêng những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân, thì ít được các nhà xã hội học quan tâm và chú ý. Auguste Comte đưa ra thuật ngữ xã hội học đã tin tưởng rằng khi các nhà xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể giúp chương trình cho một tương lai tốt hơn. Auguste Comte cho rằng, biến đổi xã hội là: - Chắc chắn xảy ra; - Sẽ theo một con đường phát triển; - Những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn. Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và những cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường tách khỏi sự sắp đặt của thuợng đế vì sự tiến bộ của nhân loại.
Đặc điểm của biến đổi xã hội Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội; Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả; Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch, vừa có tính phi kế hoạch. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các khái niệm liên quan Có nhiều cách hiểu biết khác nhau về sự biến đổi xã hội; một phần do quan điểm học thuật, cách tiếp cận vấn đề khác nhau, một phần bởi khái niệm biến đổi xã hội có liên quan gần gũi với một vài khái niệm gần kề nó. Cho nên, cần phải hiểu rõ hơn một số khái niệm liên quan đến biến đổi xã hội. - Biến cố xã hội: các nhà xã hội học thường phân biệt khái niệm biến cố xã hội với biến đổi xã hội.
Một biến cố xã hội hay một sự kiện xã hội như một cuộc bầu cử, biểu tình, đình công,. có thể đem lại sự thay đổi và cũng có thể không đem lại một sự thay đổi nào. Chính vì vậy, một số nhà xã hội học đưa ra sự phân biệt giữa sự thay đổi về sự bình quân và sự thay đổi có tính kết cấu. Thay đổi về sự bình quân là việc đi đến một sự bình quân mới sau những xáo trộn, những biến cố; nhưng các đặc trưng của hệ thống xã hội vẫn không thay đổi, chính xác hơn chỉ một bộ phận của tổng thể xã hội biến đổi, nhưng cơ cấu của xã hội vẫn không bị ảnh hưởng - Thực chất, sự thay đổi bình quân không liên quan đến sự biến đổi xã hội; - Tiến bộ xã hội: là một sự vận động có ý thức trong một chiều hướng được tán thành và đáng mong đợi.
Như vậy, tiến bộ liên quan đến giá trị - đây là sự khác biệt giữa sự tiến bộ và sự biến đổi xã hội. Thuật ngữ "tiến bộ” là một phán quyết giá trị chứ không phải là một lời tường thuật về một sự kiện. Ngược lại thuật ngữ "biến đổi” là một thuật ngữ không chỉ định hướng giá trị mà thể hiện một sự mô phỏng của một nền văn hóa hay cấu trúc xã hội hiện hữu; - Tiến hóa: thuyết tiến hóa ban đầu do Charles Darwin (1809 – 1882) đưa ra trong lĩnh vực sinh học, như một học thuyết về sự phát triển của tự nhiên - học thuyết này ảnh hưởng rất lớn đến nhiều nhà xã hội học nổi tiếng: Lewis Henry Morgan (1818-1881), Herbert Spencer (1820-1903). Morgan cho rằng, con người tiến hóa qua ba trạng thái: hoang dã, man dã và văn minh.
Spencer xây dựng lý thuyết thống nhất về sự tiến hóa: chuyển từ cái thuần nhất đơn giản sang cái không thuần nhất phức tạp, thông qua phân hóa 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để đạt tới sự thống nhất. Trong xã hội học, phân biệt hai hình thức biến đổi lớn - tiến hóa và cách mạng; hai hình thức này phụ thuộc vào những yếu tố bên trong và bên ngoài. Thoạt nhìn, chúng tự phân biệt với nhau bằng tính chất chậm chạp hay nhanh chóng của sự biến đổi diễn ra trong xã hội ở những thời điểm nhất định. Những biến đổi bên trong, ở bất kỳ lĩnh vực nào, cũng kéo theo một sự tiến hóa và sự tiến hóa này đôi khi diễn ra nhanh chóng trên phương diện vật chất, nhưng chậm hơn ở phương diện tinh thần.
Sự tiến hóa gần đây nhất và gần gũi với cách mạng là sự tiến hóa được biết đến với cái tên "phát triển” - đây là khái niệm được nhiều nhà xã hội học quan tâm và trở thành một khái niệm thịnh hành nhất vào nửa sau của thế kỷ 20. Các nhà xã hội học cho rằng, phát triển là một quá trình trong đó toàn thể loài người áp dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình, qua những thời kỳ khác nhau và có tính không thể đảo ngược của quá trình đó. Khái niệm công nghệ Ngày nay, cụm từ "công nghệ” đã trở nên phổ biến như công nghệ chế biến, công nghệ nano, công nghệ vũ trụ. nó rất gần gũi với hoạt động của con người.
Nhưng để hiểu được nó cần một quá trình tư duy về nó. Thuật ngữ công nghệ xuất phát từ tiếng Hy Lạp "techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay kỹ năng, và "logia” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu. Khi xem xét công nghệ với tư cách là sản phẩm có thể trao đổi, mua bán, một thành tố quyết định của thị trường công nghệ. Trong báo cáo của Ban Chính sách Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ tại Hội nghị Khoa học năm 2002 đã nêu ra một khái niệm về công nghệ như sau: Định nghĩa 1: Theo tác giả F.Root, “công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”.
Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định nghĩa 2: do tác giả R.Jones (1970) đưa ra, cho rằng “công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa”. Như vậy, với định nghĩa này có thể hiểu là: Về bản chất, công nghệ là cách thức (cũng là kiến thức) và về mục tiêu, công nghệ dùng để chuyển hóa nguồn lực thành hàng hóa. Định nghĩa 3: “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”.
Đây là định nghĩa của tác giả J. Baranson (1976), theo đó, bản chất của công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm. Định nghĩa 4: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường (marketing) cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới” theo J.