Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp sử dụng và đóng góp của đề tài vào thực tế. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương này trình bày các lý thuyết chính liên quan đến cấu trúc vốn nhưlý thuyết Modigliani và Miller về cấu trúc vốn doanh nghiệp, Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn, Lý thuyết chi phí đại diện, Lý thuyết trật tự phân hạng. Chương này cũng trình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 bày các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đã được các nhà nghiên cứu trước đây thảo luận. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày chi tiết về cách thu thập dữ liệu, nguồn dữ liệu và thời gian qui mô được sử dụng trong đề tài. Cách thức thu thập dữ liệu, phạm vi không gian, thời gian và quy mô dữ liệu. Bên cạnh đó, tôi còn trình bày các biến số (biến độc lập, biến phụ thuộc), đặt ra các giả thiết và trình bày các đặc trưng của mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này tôi trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích tự tương quan và kết quả hồi quy.
Sau đó kiểm định khuyết tật mô hình hồi quy. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này tôi trình bày kết luận rút ra từ công trình nghiên cứu, kiến nghị và hạn chế của đề tài; từ đó đề xuất các hướng cho bài nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Các lí thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết Modigliani và Miller về cấu trúc vốn doanh nghiệp Lý thuyết đầu tiên nghiên cứu về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và cũng là tiền đề cơ bản cho các lý thuyết sau này là kết quả nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958).Theo như mệnh đề Modigliani và Miller nghiên cứu trong năm 1958, giả định rằng trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cấu trúc vốn không làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, hay nói cách khác là tất cả các sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả là đều cho kết quả giống nhau, tất cả sự kết hợp đó đều không làm thay đổi giá trị doanh nghiệp; hay nói một cách khác nữa là trong thế giới không có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị của công ty có vay nợ và giá trị của công ty không vay nợ là như nhau.
Lý thuyết của Modigliani và Miller (1963) là sự phát triển từ kết quả nghiên cứu năm 1958, nghiên cứu này đã đưa thêm yếu tố thuế thu nhập doanh nghiệp vào mô hình và đã cho thấy rằng trong điều kiện có thuế thu nhập doanh nghiệp giá trị công ty có sử dụng nợ vay bằng giá trị công ty không sử dụng nợ vay cộng với giá trị của khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Lãi vay là chi phí hợp lí được khấu trừ vào chi phí khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do vậy những công ty có sử dụng nợ vay sẽ hưởng được lợi ích từ việc khấu trừ chi phí lãi vay. Khoản lợi từ việc khấu trừ chi phí lãi vay làm tăng lợi nhuận dẫn tới giá trị công ty cũng tăng lên. Như vậy theo Modigliani và Miller (1963) với giả định có thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ vay làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp.2 Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973) nhằm mục đích hướng tới một cấu trúc vốn tối ưu, giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần.
Một lý do lớn dẫn đến các doanh nghiệp không thể tài trợ 100% bằng nợ vay là vì việc sử dụng nợ có đem lại lợi ích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 từ hiện giá của tấm chắn thuế nhưng việc sử dụng nhiều nợ vay cũng phát sinh chi phí đi kèm như chi phí kiệt quệ tài chính. Việc sử dụng nguồn tài trợ từ nợ vay quá nhiều, đến một lúc nào đó khi mà hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không còn đủ để bù với hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà làm giảm giá trị doanh nghiệp thông qua việc chi trả lãi vay làm giảm lợi nhuận. Vì vậy, để tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp, các công ty dựa vào nguyên tắc bù trừ này để xác định nên lựa chọn tài trợ bằng bao nhiêu phần trăm nợ và bao nhiêu phần trăm vốn cổ phần để thiết lập một cấu trúc vốn tối ưu. Như vậy, lý thuyết này cho thấy rằng tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp, điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì hiện giá của tấm chắn thuế bằng với hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính.3 Lý thuyết chi phí đại diện Chi phí đại diện là chi phí phát sinh khi một tổ chức gặp phải bất đồng quan điểm về mục đích của người sở hữu và người quản trị và vấn đề thông tin bất cân xứng; hay cũng có thể nói chi phí đại diện là những thiệt hại khi nhà quản trị không cố gắng để làm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Chi phí đại diện bao gồm chi phí giám sát hoạt động của người đại diện được chi trả bởi chủ sở hữu, chi phí ràng buộc do người đại diện tự chi trả nhằm để cam kết rằng người đại diện không làm thiệt hại đến chủ sở hữu , chi phí mất mát phụ trội hay là những tổn thất do mâu thuẫn giữa người đại diện và cổ đông. Nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí đại diện là do phát sinh mâu thuẫn lợi ích giữa các cổ đông và nhà quản lí, giữa các chủ nợ và cổ đông, giữa nhà quản lí và nhân viên, giữa các nhóm cổ đông với nhau. Chi phí đại diện tồn tại trong doanh nghiệp cho thấy sự phát triển của doanh nghiệp ở quy mô lớn và mức độ quản lý điều hành chuyên nghiệp. Tuy nhiên tồn tại chi phí đại diện cũng hàm ý rằng sẽ bị gia tăng chi phí quản lí doanh nghiệp nếu những lợi ích từ các hợp đồng đại diện không đủ bù đắp chi phí đại diện, do vậy làm cho giảm sút lợi nhuận và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty.
Tóm lại, doanh nghiệp nên cân nhắc giữa việc sử dụng nợ vay để tăng vốn hay phát hành thêm cổ phần để tăng vốn vì đi kèm sẽ phát sinh chi phí đại diện. Jenshen và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Meckling (1976) đã tìm thấy rằng tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu nếu doanh nghiệp cân bằng được lợi ích từ việc sử dụng nợ và chi phí đại diện vì tồn tại chi phí đại diện sẽ làm giảm giá trị công ty thông qua giảm sút lợi nhuận.4 Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng đưa ra thứ tự ưu tiên về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Lý thuyết này đưa ra hai qui tắc khi công ty cần tăng thêm vốn. Qui tắc thứ nhất là sử dụng tài trợ nội bộ thông qua lợi nhuân giữ lại hoặc quỹ đầu tư phát triển.
Qui tắc thứ hai là phát hành chứng khoán nợ an toàn nhất. Nếu cần huy động vốn từ bên ngoài, thì chứng khoán nợ an toàn nhất nên được phát hành đầu tiên, chỉ khi mức nợ vay của công ty đã đạt đến ngưỡng cho phép có thể chấp nhận được thì công ty mới xem xét đến phát hành vốn cổ phần. Như vậy lý thuyết trật tự phân hạng cho thấy thứ tự ưu tiên khi sử dụng vốn lần lượt là: tài trợ nội bộ, phát hành chứng khoán nợ, phát hành vốn cổ phần. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, nguyên nhân các công ty có tỉ suất lợi nhuận cao thường vay ít là vì họ đã có nguồn tài trợ nội bộ là lợi nhuận giữ lại nên không cần đến nguồn tài trợ bên ngoài.
Còn các công ty có tỉ suất sinh lời thấp, khi lợi nhuận giữ lại không đủ để đáp ứng nhu cầu tăng thêm nguồn vốn thì họ sẽ ưu tiên vay nợ thêm để đáp ứng nhu cầu vốn chứ không ưu tiên phát hành vốn cổ phần, chỉ khi nào việc vay nợ không đủ để đáp ứng nhu cầu tăng vốn nữa thì doanh nghiệp mới bắt đầu huy động vốn từ việc phát hành cổ phần. Thuyết trật tự phân hạng không nhằm xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu mà thông qua đó nhà quản lý đưa ra quyết định tài trợ phù hợp cho mình. Việc sử dụng nợ đồng nghĩa phải gánh chịu chi phí lãi vay và phát hành thêm vốn cổ phần phải chi trả thêm chi phí giao dịch làm giảm lợi nhuận dẫn tới giá trị công ty thấp xuống.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 2.1 Nghiên cứu nước ngoài Chadha và Sharma (2016), bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh thông qua đòn bẩy tài chính với dữ liệu bảng gồm 422 công ty ngành sản xuất tại Ấn Độ trong thời gian từ năm 2003-2013. Biến đại diện cho hiệu quả tài chính của công ty là tỷ suất lợi trên tổng tài sản (ROA), tỉ suất lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Tobin’Q.
Biến đại diện cho cấu trúc vốn là đòn bẩy tài chính; và các biến độc lập khác như: quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp, tài sản cố định hữu hình, thời gian hoạt động, cơ cấu tài sản và cơ cấu sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều lên tỉ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần nhưng lại không có ý nghĩa thống kê đối với tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và Tobin’s Q. Salim, Yadav (2012), Bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty. Bài nghiên cứu đã được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu bảng với mẫu gồm 237 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Bursa của Malaysia trong giai đoạn 1995-2011.
Nghiên cứu sử dụng bốn biến phụ thuộc bao gồm: lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE, lợi nhuận trên tài sản ROA, Tobin’Q, thu nhập trên mỗi cổ phiếu EPS.