MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết để lựa chọn đề tài Biến đổi khí hậu đang là một hiểm họa nghiêm trọng đối với toàn thể nhân loại, nhất là những ngƣời nghèo. BĐKH tác động tới môi trƣờng toàn cầu nhƣng rõ rệt nhất là tới đời sống dân cƣ, hủy hoại sản xuất nông nghiệp và làm suy thoái đa dạng sinh học và tài nguyên nƣớc. Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều ảnh hƣởng nặng nề do con ngƣời gây ra, bao gồm các hiện tƣợng thời tiết cực đoan nhƣ hạn hán, bão, lũ lụt.
Nếu nƣớc biển dâng lên cao khoảng 1m thì sẽ có khoảng 10% dân số chịu tác động trực tiếp và có thể mất khoảng 10% GDP. Nếu không ứng phó kịp thời thì Việt Nam mất đi ít nhất 12% diện tích đất; 45% diện tích đất canh tác nông nghiệp tại đồng bằng Sông cửu long sẽ bị chìm trong nƣớc biển và nhiễm mặn. Trong những năm gần đây các biểu hiện dị thƣờng về thời tiết xuất hiện với tần suất cao đối với khu vực Bắc Trung Bộ nhƣ: Đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong vụ Đông xuân năm 2008; Hạn hán gay gắt trong vụ Hè thu 2010 diễn ra trên diện rộng, kéo dài hơn 70 ngày; Rét đậm, rét hại kéo dài 34 ngày vụ Đông xuân 2011; vụ Đông xuân 2012 có đến 26 đợt gió mùa, 7 đợt rét đậm, rét hại kéo dài 36 ngày; Vụ Đông xuân 2013, cả vụ ấm, nhiệt độ bình quân các tháng cao hơn trung bình nhiều năm 3,5 – 3,8oC [47]. Ở huyện Hƣng Nguyên gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất lúa và hoa màu, vụ Hè thu năm 2010 hạn hán gây ra khó khăn xuống giống vào đầu vụ, gặp lũ lụt vào thời điểm thu hoạch; vụ Đông xuân 2011 rét đậm, rét hại kéo dài; vụ Hè thu 2011, mƣa lớn làm ngập lúa vào giai đoạn trổ đến phơi mao; vụ Hè thu 2012 đặc biệt là diện tích lúa của một số xã vùng giữa và các xã vùng ngoài, gieo cấy muộn bị thiệt hại lớn.
Hạn hán và nắng nóng gây ra chết và giảm năng suất lạc trên diện tích lớn vào các năm 2005, 2008, 2010, 2012 [30]. Đến nay, việc nghiên cứu liên quan đến BĐKH ở Việt Nam chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long [1, 8, 19, 25, 35, 39, 40, 42, 43], tuy nhiên hiện nay cũng nhiều nghiên cứu ở miền Trung đặc biệt là các nghiên cứu về nông nghiệp 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nông thôn, sinh kế của ngƣời dân có liên quan đến BĐKH nhƣ [4, 10, 11, 16, 20, 21, 26, 34, 38,]. Tại địa bàn nghiên cứu chƣa có một nghiên cứu nào liên quan đến BĐKH hậu liên quan đến Nông nghiệp và sinh kế của ngƣời dân. Xuất phát từ thực trạng này, tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu đến Nông nghiệp huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An”.
Mục tiêu đề tài - Xác định đặc điểm xu hƣớng thay đổi thời tiết cực đoan thông qua nhiệt độ và lƣợng mƣa trong 31 năm (1977 – 2007) tại địa bàn nghiên cứu, - Đề xuất thời điểm xuống giống đối với sản xuất lúa và lạc nhằm giảm thiểu thiệt hại do các hiện tƣợng thời tiết cực đoan gây ra ở huyện Hƣng Nguyên; - Đề xuất giải pháp ứng phó với thời tiết cực đoan đối với sản xuất lúa và lạc nhằm giúp Chính quyền địa phƣơng có phƣơng án chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu a) Đối tƣợng đƣợc nghiên cứu trong đề tài này: Nông nghiệp huyện Hƣng Nguyên thông qua trồng trọt trên địa bàn. Biểu hiện của biến đổi khí hậu thông qua 2 yếu tố khí tƣợng là nhiệt độ và lƣợng mƣa. b) Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi về không gian: địa bàn toàn huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An - Phạm vi về thời gian: + Giai đoạn từ năm 1977 – 2007: chuổi số liệu nhiệt độ và lƣợng mƣa + Giai đoạn từ năm 2000 – 2013: chuỗi số liệu về sản lƣợng và diện tích đất canh tác.
Một số dự kiến đóng góp của đề tài Có nhìn nhận về đánh giá tác động và khả năng thích ứng với Biến đổi khí hậu đến các hoạt động sản xuất lúa và lạc tại địa phƣơng qua đó giúp cho Chính quyền địa phƣơng cũng nhƣ ngƣời nông dân xây dựng kế hoạch, biện pháp thích ứng với BĐKH, giảm thiểu thiệt hại tối đa trong quá trình xản xuất. Kết cấu của luận văn Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Địa bàn nghiên cứu, phạm vị nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 1. Một số khái niệm về biến đổi khí hậu BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, băng quyển, sinh quyển, bề mặt đất hiện tại và trong tƣơng lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo” [2].
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm và một địa điểm nhất định đƣợc xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mƣa, mây…[2]. Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, đƣợc đặc trƣng bởi các giá trị trung bình thống kê và các cực trị đo đƣợc hoặc qua trắc đƣợc của các yếu tố hoặc hiện tƣợng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài thƣờng là hàng chục năm [15]. Tính dễ bị tổn thƣơng dƣới tác động của BĐKH là mức độ của một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH [5]. Ứng phó với BĐKH là những hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH [5].
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc là môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tang và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [5]. Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cƣờng độ phát thải khí nhà kính [5]. Nguyên nhân của BĐKH Biến đổi khí hậu liên quan đến hiện tƣợng trái đất ấm lên. Có hai quan điểm về sự ấm lên của trái đất là các quá trình tự nhiên và dƣới sự tác động của con ngƣời.
Hiện nay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao cho rằng trong 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những thập niên gần đây những hoạt động với mục đích phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông, sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Những lĩnh vực này đã tiêu tốn nguồn năng lƣợng khổng lồ và gia tăng phát thải khí nhà kính (CO2e) vào bầu khí quyển, gây ra biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hƣởng tới môi trƣờng toàn cầu (Al Gore, 2006) [36]. Tóm lại, nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động phát thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đó là các bể hấp thụ khí nhà kính tạo sinh khối nhƣ rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Một số biểu hiện chính của BĐKH Có nhiều yếu tố để nhận định biểu hiện BĐKH.
Tuy nhiên, theo khí tƣợng thủy văn thì BĐKH đƣợc biểu hiện gồm các yếu tố sau [23]: - Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thƣờng của thời tiết và khí hậu tăng lên, - Lƣợng mƣa thay đổi; - Mực nƣớc biển tăng lên do sự tan băng ở 2 đầu cực trái đất, ở các đỉnh núi và sông băng; - Các hiện tƣợng thời tiết cực đoan xảy ra với tần suất, độ bất thƣờng và có thể cả cƣờng độ tăng lên. Khái quát về BĐKH ở Việt Nam a. Biểu hiện của BĐKH Theo số liệu quan trắc, một số nghiên cứu cho rằng biến đổi của các yếu khí hậu ở Việt Nam có một số nét chính nhƣ sau: Nhiệt độ đã liên tục tăng lên. Trong quãng thời gian 1900 – 2000, mỗi thập kỷ nhiệt độ trung bình năm lại tăng lên 0,1oC.
Mùa hè đang trở nên nóng hơn so với nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,1-0,3oC mỗi thập kỷ (UNDP, 2007). Nhiệt độ trung bình sẽ tăng nhanh hơn ở niềm Bắc so với niềm Nam; mùa đông thì nhiệt độ trung bình sẽ tăng nhanh hơn và tăng nhiều hơn sơ mùa hè (MONRE, 2009). Số liệu trên cho thấy xu hƣớng ấm nóng lên của Việt Nam. Trong vòng 70 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng lên khoảng 0,5 oC [3, 44]; 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lượng mưa trung bình năm trong mùa mƣa đã tăng lên, và sẽ tiếp tục tăng, trong khi lƣợng mƣa mùa khô đƣợc dự đoán là sẽ xuống.
Những thay đổi về lƣợng mƣa là rất phức tạp có đặc thù theo mùa và theo khu vực, xu thế biến đổi của lƣợng mƣa trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống [5]; Số đợt không khí lạnh ảnh hƣởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15- 16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trƣờng hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị thƣờng (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997) [2, 44]; Hình thái bão: đang thay đổi và bão với cƣờng độ lớn đang xuất hiện nhiều ở Việt Nam. Số lƣợng các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam đã tăng lên trong khoảng những năm 1950 và những năm 1980 song lại giảm đáng kể trong những năm thập niên 90 của thế kỷ trƣớc.
Tháng có nhiều bão nhất đã chuyển dịch từ tháng 8 vào những năm 1950 đến tháng 11 vào những năm 1990. Đƣờng đi của bão đã dịch dần xuống phía nam và rất nhiều cơn bão có đƣờng đi bất thƣờng [3, 44]; Mực nước biển: số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nƣớc biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993 – 2008). Trong khoảng 50 năm qua, mực nƣớc biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm [2, 5].