phần mở đầu, và kết luận, luận văn gồm 3 chương Chƣơng 1: Những nhân tố dẫn đến sự trỗi dậy của Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XXI- đề cập đến những nét chính trong bối cảnh quốc tế và trong nước diễn ra trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, tác động đến Ấn Độ mà đã mang lại thành công cho Ấn Độ trong những năm đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thế kỷ này. Đặc biệt, tập trung xem xét các yếu tố này từ năm 2000 đến nay, bởi năm 2000 đánh dấu sự kiện thế giới bước sang thế kỷ XXI, giai đoạn của nền văn minh kinh tế tri thức với sự bùng nổ mạnh mẽ của thời đại công nghệ thông tin. Ấn Độ là một quốc gia đứng đầu thế giới về công nghệ thông tin, khoa học máy tính. Hơn nữa, năm 2000 đánh dấu 10 năm Ấn Độ thực hiện công cuộc cải cách toàn diện về kinh tế(1991-2000), 10 năm triển khai chính sách đối ngoại “ chính sách hướng Đông của Ấn Độ”.
Điều này đã mang lại nhiều thành công cho Ấn Độ. Chƣơng 2: Sự trỗi dậy của Ấn Độ trên một số phƣơng diện trong những năm đầu thế kỷ XXI-nghiên cứu những thành tựu Ấn Độ đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, trong đó tập trung chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế. Chƣơng 3: Một số tác động từ sự trỗi dậy của Ấn Độ đối với quan hệ quốc tế trong những năm đầu thế kỷ XXI-từ những thành tựu Ấn Độ đạt được trên các lĩnh vực phân tích những tác động đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đồng thời xem xét những khó khăn thách thức mà Ấn Độ đang phải đối mặt để nhận định về triển vọng phát triển của Ấn Độ trong thời gian tới.
Do hạn chế về thời gian và điều kiện tiếp xúc thực tế, kết quả nghiên cứu của đề tài không tránh khỏi những thiếu sót cần được nghiên cứu, trao đổi để bổ sung thêm. Em rất mong nhận được những góp ý chân thành của các quý Thầy Cô để chỉnh sửa, hoàn thiện đề tài. Nhân đây, em cũng xin cảm ơn PGS.TS Ngô Xuân Bình- Viện trưởng Viện nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á, cùng các Thầy Cô trong khoa Quốc tế học, trường ĐH KHXH& Nhân văn, ĐHQGHN đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ DẪN ĐẾN SỰ TRỖI DẬY CỦA ẤN ĐỘ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 1.1 Tình hình thế giới và khu vực Thập niên 90 của thế kỷ XX chứng kiến sự sụp đổ của thế giới lưỡng cực và chuyển biến sang một trật tự thế giới mới.
Chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô sụp đổ dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Hệ thống chính trị thế giới không còn là sự phân chia giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa mà bị chi phối bởi nhiều cường quốc và khối cường quốc đan xen. Từ đây, xu hướng hợp tác vì hòa bình, ổn định và phát triển vượt lên những bất đồng là chủ yếu; xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra nhanh chóng đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cũng có nhiều điều kiện để phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Hòa bình, ổn định, đối thoại hợp tác vì mục tiêu phát triển là một xu hướng quan trọng trong thế kỷ XXI bên cạnh không ít những mâu thuẫn, bất đồng. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới bắt gặp hình ảnh nước Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Iraq đầy tốn kém cả về nhân lực và của cải. Phát biểu trong bài diễn văn ở Munich đầu tháng 2/2007 Tổng thống Nga Putin đã chỉ trích những hoạt động của Mỹ sẽ dẫn đến nguy cơ đẩy thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang mới. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế là nội dung quan trọng, các nước lớn đều không muốn tiếp tục tăng thêm chi phí cho quốc phòng.
Không khí hòa bình, hợp tác phát triển trở thành nguyên nhân chủ đạo cho các nước lớn điều chỉnh chiến lược của mình từ đối đầu sang đối tác chiến lược. Nhiều mâu thuẫn, tranh chấp đang diễn ra được giải quyết theo chiều hướng hiệp thương, tránh các xung đột đối đầu. Các nước lớn với tư cách là người khởi xướng và dẫn dắt các quá trình liên kết khu vực, liên kết quốc tế đã thúc đẩy tiến trình này. Để tranh thủ các cơ hội trong xu thế hợp tác các nước phát triển đã từng bước cải cách thể chế, mở cửa và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Hợp tác phát triển diễn ra ở nhiều cấp độ: quốc gia, khu vực, trong từng ngành…đã và sẽ tiếp tục làm cho bầu không khí chính trị thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới lắng dịu, môi trường ổn định đảm bảo cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì. Thế giới từ hai cực chuyển thành đa cực, chính yếu tố đa cực đã hạn chế khả năng can thiệp quân sự của các nước lớn vào các quốc gia khác. Xu thế hợp tác phát triển không phải là nguyện vọng riêng của các nước đang phát triển mà là nguyện vọng của tất cả các quốc gia. Xung đột, đối đầu gây nhiều tổn thất không chỉ về kinh tế mà còn về yếu tố con người, điều này thực sự không còn phù hợp và đang bị nhân loại lên án.
Do đó, quan hệ giữa Nga- Mỹ, Ấn Độ- Mỹ, Ấn Độ- Pakistan …thông qua đối thoại và hợp tác đã được cải thiện dần. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận những nguy cơ bất ổn vẫn còn tồn tại, đó là chủ nghĩa ly khai, khủng bố quốc tế đang diễn ra rất phức tạp. Một xu hướng chủ yếu khác đang diễn ra trong những năm đầu thế kỷ XXI kể từ sau chiến tranh lạnh kết thúc đó là xu hướng toàn cầu hóa đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế với những đóng góp to lớn của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ. Toàn cầu hóa mang lại rất nhiều lợi ích cho nhân loại như tạo ra hàng triệu cơ hội việc làm ở các quốc gia đang phát triển, buôn bán giữa các nước gia tăng, những công nghệ mới và FDI chảy vào các nước đang phát triển kích thích tốc độ tăng trưởng của các nước này.
Toàn cầu hóa khiến Nam Á giảm mâu thuẫn nội bộ (giữa Ấn Độ và Pakistan) để tạo điều kiện phát triển, tương tự trong các mối quan hệ giữa Ấn Độ và các nước láng giềng nói chung (Ấn Độ- Trung Quốc, Ấn Độ- Nga…) đều giảm mâu thuẫn, đối đầu để tăng hợp tác. Xu hướng tự do hóa thương mại sẽ tiếp tục phát triển ở mọi mức độ khác nhau như hợp tác song phương, đa phương. Chính các hiệp định hợp tác đó sẽ có vai trò tích cực trong việc liên kết kinh tế giữa các khu vực. Các hiệp định đa phương được ký kết không chỉ trên phương diện tự do hóa thương mại mà còn cả tác động tới việc xúc tiến đầu tư, chuyển giao công nghệ và nâng cao hoạt động của các dịch vụ.
Bước sang thế kỷ XXI, nhân loại chứng kiến cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức phát triển nhanh chóng. Dưới tác động của cách mạng công nghệ, cùng với quá trình tự do hóa thương mại, cơ cấu thương mại cũng có nhiều thay đổi. Sự thay đổi biểu hiện ở chỗ các sản phẩm có hàm lượng vốn và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công nghệ cao chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu điển hình như tỷ trọng của các ngành công nghệ thông tin cũng như các ngành công nghiệp hàm lượng kỹ thuật cao như công nghệ sinh học, công nghệ nano. Đặc biệt với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã làm cho nhịp độ trao đổi tiền tệ tăng 20 lần so với trao đổi thương mại.
Các cuộc trao đổi về tiền tệ diễn ra 24/24h và đạt tới 1500 tỷ USD mỗi ngày. Điều đó đã thúc đẩy quá trình tự do hóa hóa tài chính phát triển.Quốc tế hóa tài chính thúc đẩy trở lại quốc tế hóa thương mại và quốc tế hóa nền sản xuất trên phạm vi toàn cầu. Biểu hiện của tự do hóa tài chính là sự chuyển vốn FDI tới các khu vực khác nhau trên thế giới, đặc biệt là vào các nước đang phát triển tiếp tục tăng lên. Trong số các nước đang phát triển thì Ấn Độ cũng là một trong những nước thu hút nhiều FDI.
Cục diện quốc tế thay đổi sau khi chiến tranh lạnh kết thúc như phân tích ở trên đã tạo ra bối cảnh mới vừa thuận lợi vừa khó khăn cho tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Ấn Độ. Bên cạnh một môi trường quốc tế ổn định, đối thoại là chủ yếu, tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, buôn bán thương mại giữa các quốc gia gia tăng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng tiếp nhận nguồn công nghệ mới, mở rộng các ngành nghề mới… thì đó còn là sự cạnh tranh mãnh liệt về thị trường tiêu thụ cũng như nguồn nguyên liệu đối với các quốc gia, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống trở nên sâu sắc. Đặc biệt sự kiện chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991 cũng có những tác động sâu sắc đến quốc gia Ấn Độ bởi lẽ: Từ khi bắt đầu chiến tranh lạnh vào những năm 1950, Ấn Độ chủ trương đường lối chính trị không liên kết và là nước đi đầu của phong trào không liên kết. Tuy nhiên, trên thực tế, ngay từ sau khi giành được độc lập, giới lãnh đạo Ấn Độ trong đó có thủ tướng Nehru đã chọn mô hình phát triển kinh tế tập trung có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa để làm mô hình cho nền kinh tế nước mình.
Như vậy, sự sụp đổ của Liên Xô cũng chính là sự sụp đổ mô hình kinh tế xã hội mà Ấn Độ đang cố gắng xây dựng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hơn nữa, từ sau khi giành độc lập, không phải lúc nào quan hệ Liên Xô- Ấn Độ cũng tốt đẹp nhưng nhìn chung đây là mối quan hệ gắn bó và bền vững. Hai nước đã ký kết hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác vào năm 1971 và hiệp ước này đã được ký lại vào năm 1991. Đến cuối những năm 1970.