đặt vấn đề: có sự mâu thuẫn giữa một dân tộc vốn coi trọng đạo lý nhƣng lại rất ít quan tâm đến giáo dục thông qua sự thể hiện “quá kiệm lời”. Đặt ra một vấn đề thâm sâu nhƣng ở phần cuối tác giả đã kết luận một cách suy diễn, thiếu cơ sở khoa học khi cho rằng: “Dƣới thời phong kiến, số ngƣời đƣợc đi học rất ít. Việc học hành là mối quan tâm của thiểu số, bởi vậy, tục ngữ ít đề cập đến đề tài này” [98, tr. Với kết luận nhƣ vậy, cho thấy tác giả chƣa thật sự tìm hiểu thấu đáo ngọn ngành vấn đề.
Trong phần xác định những nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của Nho giáo vào đời sống văn hóa ngƣời dân, chúng tôi sẽ giới thiệu những con số cụ thể về tình hình học tập thi cử của nƣớc ta trong thời kỳ phong kiến làm cơ sở để đối chiếu với nhận định của tác giả. Gần đây, hai tham luận của Nguyễn Xuân Diện và Nguyễn Duy Hinh tại hội thảo quốc tế do Viện nghiên cứu Hán - Nôm Việt Nam và Viện Harvard – Yenching Hoa Kỳ tổ chức năm 2007 cũng đã đặt ra một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ của Nho giáo và văn hóa dân gian. Cả hai một lần nữa khẳng định sự can thiệp của tầng lớp trí thức nho sĩ Việt Nam vào quá trình hình thành nên những công trình sƣu tầm tục ngữ, ca dao. Tham luận của Nguyễn Xuân Diện với nhan đề “Trí thức Nho giáo với việc Nho giáo hóa xã hội (làng xã: từ góc nhìn tƣ liệu học - foklore)” cho thấy những hoạt động cụ thể của nho sĩ trong việc truyền bá Nho giáo, trong đó có hoạt động sƣu tập, lƣu giữ và sáng tác văn học dân gian cũng nhƣ nghệ thuật sân khấu dân gian.
Còn Nguyễn Duy Hinh trong tham luận “Nho giáo với văn hóa dân 11 gian, đôi điều suy nghĩ”, theo cách giới thiệu và tái khẳng định sự có mặt của Tam giáo trong tục ngữ, đã điểm lƣợc một số câu mang nội dung Tam giáo, cũng nhƣ điển tích Bắc sử… đƣợc các thầy đồ dẫn dụng vào tục ngữ, trong đó có một số câu “thể hiện tƣ tƣởng Khổng giáo” [161, tr. Năm 2007, với đề tài luận văn thạc sĩ: Ảnh hưởng của văn hóa bác học trong ca dao dân ca người Việt, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê sơ bộ về sự có mặt của các yếu tố Nho giáo trong ca dao – dân ca ngƣời Việt cùng với các yếu tố khác: Phật, Đạo, văn học viết… Ở góc nhìn văn hóa, xem sự ảnh hƣởng của Nho giáo vào ca dao – dân ca vào hệ thống giá trị đạo đức ngƣời Việt là kết quả của sự tiếp xúc, giao lƣu văn hóa, chúng tôi đã chỉ ra những ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực của Nho giáo vào đời sống tinh thần ngƣời dân Việt thông qua ca dao – dân ca. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy những phân tích, kiến giải về Nho giáo trong luận văn chƣa đủ độ sâu vì phải chia sẻ dung lƣợng với những nội dung khác để đáp ứng yêu cầu của đề tài. Hơn nữa, khảo sát chỉ giới hạn trong thể loại ca dao, chƣa bao hàm cả tục ngữ, nên vấn đề còn nhiều khía cạnh cần bổ sung.
Quan trọng hơn là trong quá trình phân tích, chúng tôi chƣa tiến hành truy nguyên nguồn gốc của các biểu tƣợng đạo đức Nho giáo trong ca dao – dân ca ngƣời Việt, nhằm đối chiếu, làm rõ những giá trị đạo đức cốt lõi mà Nho giáo đóng góp vào tâm thức, vào truyền thống dân tộc Việt, cũng nhƣ phân tích nguyên nhân dẫn đến những ảnh hƣởng tiêu cực của Nho giáo đối với hệ tƣ tƣởng bình dân. Kết quả của sự so sánh, đối chiếu còn có thể làm nổi bật tinh thần chủ động, sự tinh nhạy, khả năng sáng tạo tuyệt vời của bao thế hệ ngƣời Việt xƣa trong quá trình tiếp nhận và biến đổi văn hóa ngoại sinh, làm nên bản sắc ngƣời Việt hôm nay nhƣng chúng tôi chƣa có đủ điều kiện để tiến hành. Giải quyết những gì còn tồn tại ở luận văn thạc sĩ là mục tiêu mà luận án tiến sĩ chúng tôi đặt ra. Nhƣ vậy, dấu ấn của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt đã đƣợc nhận diện từ rất lâu.
Tuy nhiên, vấn đề chỉ đƣợc điểm qua để nội dung nghiên cứu có tính khái quát và toàn vẹn hay nhằm phục vụ cho nội dung nghiên cứu khác. Trong khi tìm hiểu sự ra đời của tục ngữ, ca dao – dân ca, các nhà nghiên cứu đã 12 khẳng định sự tham gia sáng tác của các bậc túc nho, tầng lớp sĩ dân hoặc những ngƣời đƣợc tiếp nhận hệ thống giáo dục Nho giáo. Các nhà nghiên cứu đi trƣớc có xu hƣớng xem đó là nguyên nhân, là cái gốc để lý giải sự xuất hiện của các yếu tố có liên quan đến Nho giáo nên hầu hết các công trình chỉ dừng lại ở việc chỉ ra sự có mặt và nguyên nhân xuất hiện của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca. Thậm chí nếu đƣợc khẳng định là nội dung tƣ tƣởng nền tảng của tục ngữ, ca dao – dân ca thì đạo đức Nho giáo, các yếu tố liên quan đến Nho giáo cũng chỉ là một phần trong nghiên cứu chung về những ảnh hƣởng của văn hóa bác học trong tục ngữ, ca dao – dân ca.
Đồng thời, theo quan điểm giai cấp, các nhà nghiên cứu thƣờng cho rằng Nho giáo mang đến cho đời sống tinh thần ngƣời Việt những quan niệm đạo đức phong kiến hủ bại. Một số công trình thể hiện sự khách quan trong những đánh giá tích cực về hệ thống giá trị đạo đức Nho giáo thì lại nghiêng về sự tiếp biến chủ động và sáng tạo của chủ thể văn hóa bình dân, không quan tâm đến giá trị cốt lõi mang tính nhân văn của Nho giáo, mà chính yếu tố này là một trong những nguyên nhân quan trọng để Nho giáo đƣợc chào đón trong ngôi nhà văn hóa chung của ngƣời Việt. Nhiệm vụ chúng tôi đặt ra cho công trình này là giải quyết thấu đáo những vấn đề trên. Đối chiếu với tƣ tƣởng bản địa, chúng tôi muốn phác họa một bức tranh tổng thể về thực tế biến đổi diện mạo văn hoá của dân tộc Việt do những đƣờng nét tiếp biến Nho giáo khắc họa trên nền tƣ liệu tục ngữ, ca dao – dân ca.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trong công trình này chúng tôi tập trung vào các phạm trù Nho giáo, những biểu tƣợng văn học có nguồn gốc Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca và tiến hành khảo sát, nhận dạng chúng để làm rõ đâu là yếu tố bản địa, đâu là yếu tố tiếp nhận và biến đổi từ Nho giáo trong nội dung “đạo làm ngƣời” của tục ngữ, ca dao – dân ca. Đồng thời qua đó xác định vị trí của đạo đức Nho giáo trong quan niệm truyền thống của ngƣời dân Việt, chứng minh tính hiện đại của đạo đức Nho giáo đối với xã hội hiện nay. 13 Hiện nay có rất nhiều công trình sƣu tập tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt, bên cạnh những phần tinh tuyển tục ngữ, ca dao – dân ca trong các bộ tổng tập văn học, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập, tổng hợp tục ngữ, ca dao – dân ca đầy đủ, bao quát hơn trong những bộ sách riêng, trong đó nổi bật nhất là hai bộ sƣu tập ca dao và tục ngữ riêng biệt của nhóm tác giả, do Nguyễn Xuân Kính chủ biên. Bộ ca dao có tên Kho tàng ca dao người Việt, gồm hai tập với 12.487 câu, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2001 và bộ Kho tàng tục ngữ người Việt, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2002.
Trong bộ Kho tàng tục ngữ người Việt có một số câu đã đƣợc đƣa vào Kho tàng ca dao người Việt, vì vậy, khi chọn hai bộ sách làm tài liệu khảo cứu cơ bản, chúng tôi phải kiểm đếm lại, loại bỏ những câu trùng lặp (có hình thức là một bài ca dao, một câu 6 và một câu 8), xác định con số thực tế, để có những kết quả thống kê chính xác. Có thể nói cho đến nay, đây là hai công trình có số lƣợng sƣu tập về tục ngữ, ca dao lớn nhất, dựa vào nguồn tƣ liệu đa dạng và bao quát nhất so với một công trình khác là Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Viện Văn học. Tập IV của công trình này đƣợc chia làm hai quyển: quyển 1 về tục ngữ, ca dao; quyển 2 về dân ca. Vì đặc tính tuyển chọn nên số lƣợng tục ngữ, ca dao trong công trình này hạn chế hơn so với công trình của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính.
Trong lời nói đầu, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính đã cho thấy một khối lƣợng tài liệu đƣợc tập hợp rất lớn, gồm 40 cuốn (với 49 tập) đã đƣợc biên soạn từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1975. Công trình đƣợc chỉnh lý bổ sung liên tục trong suốt 25 năm (từ 1974 đến 1999), cuối cùng nhóm tác giả đã cho ra đời một tổng tập ca dao đồ sộ với mục đích “đem đến cho bạn đọc một công cụ giúp cho việc tìm hiểu, thƣởng thức ca dao, dân ca ở nhiều góc độ, với nhiều yêu cầu khác nhau” [74, tr. Cũng với tinh thần, phƣơng pháp và mục đích nhƣ vậy, nhóm cũng đã hoàn chỉnh bộ tổng tập về tục ngữ, đƣợc Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian xếp loại xuất sắc. Công trình đã lập nhiều kỷ lục: Lần đầu tiên có một công trình giới thiệu với số câu tục ngữ nhiều nhất (16.
098 câu, số liệu tác giả đƣa ra. Sau khi chúng tôi loại bỏ một số câu 14 đã đƣợc giới thiệu trong Kho tàng ca dao người Việt, con số còn lại phục vụ cho việc thống kê của chúng tôi là 15. Lần đầu tiên có một công trình chú giải đƣợc nhiều câu tục ngữ nhất. Lần đầu tiên có một công trình giới thiệu tục ngữ theo nhiều hệ thống [76, tr.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn hai công trình này làm tài liệu khảo sát chính, kết hợp đối chiếu bổ sung với một số tài liệu khác có liên quan.