Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về BHYT, BHYT hộ gia đình và sự hài lòng của người dân khi tham gia BHYT hộ gia đình - Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BHYT, BHYT HỘ GIA ĐÌNH VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƢỜI DÂN THAM GIA BHYT HỘ GIA ĐÌNH 1. Cơ sở lý luận về BHYT, BHYT hộ gia đình và sự hài lòng của ngƣời dân khi tham gia BHYT hộ gia đình 1.
Cơ sở lý luận về BHYT, BHYT hộ gia đình 1. Một số khái niệm Bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế xuất hiện đầu tiên tại Đức vào năm 1883 dưới hình thức bảo hiểm ốm đau và thương tật cho công nhân của các chủ doanh nghiệp. Sau đó chính phủ Đức tham gia thực hiện bảo hiểm cho người già, trẻ em và người bị thương tật. Từ đó BHYT bắt đầu phát triển ở Đức và lan rộng sang các nước khác.
Tuy BHYT đã ra đời vào thế kỷ XIX nhưng định nghĩa về BHYT đầu tiên được đưa ra vào năm 1694 bởi Hugh the elder Chamberlen (1630-1720) như sau: BHYT là hình thức chi trả chi phí y tế cho người được bảo hiểm tính trên rủi ro sức khỏe đã được thỏa thuận khi mua bảo hiểm và số tiền chi trả chi phí y tế phải cân đối với số phí bảo hiểm y tế mà những người tham gia bảo hiểm đóng góp (Inc Icon group International, 2008). Cơ quan phát triển quốc tế Anh đưa ra một định nghĩa khác cho BHYT: BHYT một phần hoặc toàn bộ chi phí cho các cá nhân bởi chính phủ hoặc các tổ chức BHYT vì mục đích lợi nhuận hay không vì mục đích lợi nhuận. Nó hỗ trợ những người tham gia bảo hiểm chi trả chi phí khám chữa bệnh khi gặp rủi ro, ốm đau bệnh tật và hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh thường xuyên để đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người mua bảo hiểm (Catharine P Conn, Veronica Walford, 2008) Bảo hiểm y tế hay bảo hiểm sức khỏe là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh. Bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải 6 số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế.
Tùy mỗi nước mà phạm vi đối tượng bảo hiểm và mức độ bảo hiểm (một phần hay toàn bộ) ở mỗi nước một khác. Ở mỗi quốc gia có cách phân loại Bảo hiểm y tế khác nhau. Ví dụ, tại Nhật Bản, Bảo hiểm y tế bao gồm cả các chính sách bảo hiểm ngắn hạn là: Ốm đau, Thai sản, Tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp và khám chữa bệnh. Ở Việt Nam, khái niệm BHYT được đề cập trong Điều 2, Luật BHYT số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT như sau: Bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Tóm lại, BHYT là một loại bảo hiểm mà người bảo hiểm hỗ trợ tài chính bằng cách chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí y tế theo thỏa thuận cho người được bảo hiểm để họ phòng tránh và khắc phục thiệt hại của rủi ro sức khỏe nếu người được bảo hiểm nộp một khoản phí bảo hiểm cho người bảo hiểm. Người bảo hiểm có thể là Nhà nước hoặc tư nhân (vì mục đích lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận) thực hiện. Như vậy, có thể thấy, BHYT có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: kinh tế, xã hội, pháp lý, dân số… Tuy nhiên, dù ở góc độ nào, BHYT cũng có một số đặc trưng cơ bản đó là được thiết lập trên cơ sở sự đóng góp của người tham gia; bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh và không mang mục đích kinh doanh.
BHYT hộ gia đình và Phát triển BHYT hộ gia đình - BHYT hộ gia đình Hiện nay, khái niệm BHYT đã được thay thế bằng BHYT hộ gia đình. Trong đó, mỗi thành viên trong gia đình lại có mức đóng BHYT khác nhau. Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 12 Luật BHYT năm 2014. 7 Có thể hiểu, tham gia BHYT theo hộ gia đình là việc toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu (không bao gồm người đã khai báo tạm vắng) hoặc sổ tạm trú cùng tham gia BHYT, trừ những thành viên gia đình đã thuộc đối tượng đã tham gia BHYT thuộc nhóm do người lao động, chủ sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức BHXH đóng; các nhóm được ngân sách nhà nước đóng hoặc hỗ trợ mức đóng BHYT.
Như vậy, nếu người dân không thuộc các nhóm đối tượng tham gia BHYT có sự hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc toàn bộ phí tham gia BHYT từ người sử dụng lao động, tổ chức BHXH hay Nhà nước thì sẽ tham gia BHYT hộ gia đình bằng cách tự đóng góp phí BHYT. - Phát triển BHYT hộ gia đình Theo Luật BHYT sửa đổi bổ sung, mốc thời gian 01/01/2015 là thời điểm các đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT. Về lộ trình phát triển BHYT toàn dân, có các quan điểm khác nhau: có quan điểm cho rằng nên quy định bắt buộc toàn dân ngay, có quan điểm cho rằng nên thực hiện theo lộ trình nhiều năm. Phát triển BHYT toàn dân là quá trình quy định dần các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc như cán bộ, công nhân viên chức, người lao động, người hưởng lương hưu, người nghèo, trẻ em, học sinh, sinh viên, người bảo trợ xã hội…Đồng thời mở rộng đối tượng bao phủ BHYT theo quy định cho những người còn lại.
Như vậy, BHYT là tất yếu và phát triển BHYT toàn dân là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh hợp lý vấn đề thực thi pháp luật, sự hỗ trợ của nhà nước, cách thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm của các bên, vai trò hệ thống y tế cung ứng dịch vụ và ngành BHXH. Theo Quyết định số 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ, từ nay đến năm 2020, BHXH Việt Nam cần phải phấn đấu hoàn thành và vượt chỉ tiêu tỉ lệ bao phủ BHYT, cụ thể: năm 2016, đạt tỉ lệ 79% dân số tham gia BHYT; năm 2017 đạt tỉ lệ 82,2%; năm 2018 đạt tỉ lệ 85,2%; năm 2019 đạt tỉ lệ 88,1% và năm 2020 đạt tỉ lệ 90,7% dân số tham gia BHYT.Theo đó, phát triển đối tượng hộ gia đình tham gia BHYT là giải pháp quan trọng để góp phần đạt mục tiêu BHYT toàn dân. 8 Chất lƣợng dịch vụ: - Chất lượng dịch vụ theo Lehtnen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên 2 khía cạnh (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Còn theo Gronroos (1984) cũng đưa ra định nghĩa về chất lượng dịch vụ gồm 2 yếu tố của chất lượng dịch vụ đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng.
Trong đó chất lượng dịch vụ liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng cho biết chúng được phục vụ thế nào. - Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Yavas và các cộng sự, 1997; Ahmad và Kamal, 2002). Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng. Parasurman, Zeithaml and Berry (1985, 1988) định nghĩa Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
Nhận định này chứng tỏ rằng chất lượng dịch vụ liên quan đến những mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ. Parasuraman (1991) giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Sự hài lòng của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ: - Sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái/cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ sau khi đã sử dụng dịch vụ đó (Terrence Levesque và Gordon H. - Cụ thể hơn, sự hài lòng của khách hàng là sự phản hồi tình cảm/toàn bộ cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa những gì họ nhận đuợc so với mong đợi trước đó (Oliver, 1999 và Zineldin, 2000).
Cũng trên quan điểm này, Kotler (2000) cho rằng sự hài lòng được xác định trên cơ sở so sánh giữa kết quả nhận được từ dịch vụ và mong đợi của khách hàng được xem xét dự trên ba mức độ sau đây: 9 + Nếu kết quả nhận được ít hơn mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng. + Nếu kết quả nhận được giống như mong đợi thì khách hàng sẽ hài lòng. + Nếu kết quả nhận được nhiều hơn mong đợi thì khách hàng sẽ rất hài lòng và thích thú với dịch vụ đó. - Trong khi đó, Oliver, và Bearden (1995) thì lại cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một nhiệm vụ của doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa những giá trị của sản phẩm, dịch vụ đó so với những mong đợi trước đó của khách hàng về chúng.
Rõ ràng dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng luôn gắn liền với những yếu tố sau: + Tình cảm/thái độ đối với nhà cung cấp dịch vụ. + Mong đợi của khách hàng về khả năng đáp ứng nhu cầu từ phía nhà cung cấp dịch vụ. + Kết quả thực hiện dịch vụ/Các giá trị do dịch vụ mang lại. + Ý định sẵn sàng tiếp tục sử dụng dịch vụ - Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.