Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHI TRẢ LƯƠNG HƯU VÀ TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát về dịch vụ và sự hài lòng của đối tượng sử dụng dịch vụ 1.Khái niệm về dịch vụ 1. Khái niệm chung Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hoá và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng” Grnroos, C., (1982) [12] Theo Luật giá 2013, dịch vụ là những hàng hoá có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành LVTS Quản trị kinh doanh sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Theo Zeithaml và Bitner (2000)[22]: “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng , làm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” Theo Philip Kotler(2004) [19], dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào.
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tịu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể( hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt”, có 7 đặc điểm, bao gồm: - Tính không hiện hữu( tính vô hình) 7 Dịch vụ vô hình nên người tiêu dùng không thể cảm nhận bằng các giác quan. Ví như dịch vụ các trò chơi điện tử, dịch vụ vẽ truyền thần người mua dịch vụ không thể quan sát thấy trước được.
Tính hữu hình của mỗi loại dịch vụ khác nhau, có loại dịch vụ vô hình gần như tuyệt đối như các dịch vụ giảng dạy, tư vấn. tính hữu hình gần như bằng không, nhưng đối với dịch vụ như ăn uống, khách sạn.thì tính hữu hình kèm các sản phấm khá cao. Khách hàng chỉ cảm nhận, đánh giấ chất lượng dịch vụ thông qua thương hiệu, giá cả, tư vấn khách hàng. Đặc điểm này, đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ cần xây dựng đội ngũ nhân viên bán dịch vụ có đủ năng lực, có tư chất cần thiết để tư vấn, giới thiệu rõ cho khách hàng về chất lượng, giá cả, lợi ích, công dụng.mà dịch vụ mang lại để cho khách hàng có thể cảm nhận tốt nhất đi đến quyết định sử dụng dịch vụ.
- Tính không đồng nhất (tính không ổn định): Dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt và không có chất lượng đồng nhất. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: người cung ứng, khách hàng, thời gian, địa điểm, điều kiện môi trường, hoàn cảnh, LVTS Quản trị kinh doanh cung ứng dịch vụ. Vì thế, rất khó đánh chất lượng dịch vụ cũng không thể đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay chưa hoàn hảo nếu chỉ xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể, như sự niềm nở, lịch sự, thân thiện, nhiệt tình của nhân viên đối với khách hàng. Các doanh nghiệp cần có đội ngũ nhân viên có trình độ và nhạy cảm để nắm bắt tâm lí khách hàng giúp cho việc phục vụ tốt nhất.
- Tính không thể tách rời: Dịch vụ diễn ra đồng thời giữa quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ với tiêu dùng sản phẩm dịch vụ nên rất khó có thể phân chia thành hai giai đoạn sản xuất, tiêu dùng dịch vụ rạch ròi. Ví như, thợ cắt tóc không thể cắt tóc nếu không có khách đến cắt tóc, thợ may không thể may nếu không có khách may áo, quần. Do vậy, người cung cấp dịch vụ phải biết nhanh, nhạy ứng xử kịp thời với những góp ý, mong muốn của người tiêu dùng dịch vụ, đồng thời cần có chính sách phân phối để có thể cung ứng đầy đủ mới có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. - Tính không thể dự trữ (không tồn kho): Hàng hoá thông thường được sản xuất, cất trừ vào kho, phân phối cho đại lý bán hàng, rồi mới đến người tiêu dùng.
Nhưng, 8 dịch vụ không thể cất dữ trong kho rồi sau đó đem ra sử dụng hay để bán trong tương lai. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian nó được cung cấp, do vậy doanh nghiệp chỉ có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau, chứ không thể đem cất dịch vụ. Ví như, ta không thể lưu trữ cảm giác được xem trực tiếp một buổi biểu diễn hay một cuộc mít tinh trọng thể; cũng không thể giữ lại số ghế trống trong rạp hát của buổi biểu diễn hôm nay để bán cho khách hàng vào buổi biểu diễn ngày mai. Vì vậy, nhà cung cấp dịch vụ cần thường xuyên theo dõi, đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng, thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá quá trình cung cấp dịch vụ, chú trọng công tác quản lý chất lượng, áp dụng chính sách giá cả, khuyến mại.theo thời gian hay áp dụng hệ thống đăng ký chỗ trước.để khuyến khích người tiêu dùng.
- Tính không thể mất đi: Kỹ năng dịch vụ luôn tồn tại và không mất đi sau khi cung ứng. Ví như, cầu thủ đá bóng không mất đi khả năng kỹ thuật đã bóng của mình sau buổi thi đấu, thày giáo không mất đi kỹ năng truyền đạt kiến thức của mình cho học sinh sau buổi lên lớp. LVTS Quản trị kinh doanh Tuy nhiên, người cung ứng dịch vụ là người tham gia vào quá trinh cung ứng nên họ có có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Doanh nghiệp cần chú ý xây dựng, đào tạo được đội ngũ nhân viên giỏi làm nhiệm vụ cung ứng thì hiệu quả sẽ tốt hơn.
- Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khách hàng mua hàng hoá được quyền chuyển quyền sở hữu khi đã mua, nhưng khách hàng chỉ được quyền sử dụng, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định. Với đặc điểm này, người bán buôn, bán lẻ cũng chi đơn thuần là người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ, nhưng họ có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, vì vậy doanh nghiệp cần hỗ trợ, bồi dưỡng, huấn luyện, kiếm tra đánh giá các khâu trung gian phân phối dịch vụ để đảm bảo chất lượng dịch vụ. - Tính nhạy cảm: Dịch vụ rất nhạy cảm với sự thay đổi của công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, thể hiện ở sự không ngừng tinh vi hoá, hiện đại hoá về chất lượng dịch vụ. Điều này, thể hiện rõ nhất ở dịch vụ điện thoại di động; từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuật anolog sang đầu thập niên năm 1990 đã chuyển sang thế hệ thứ 2 là lỹ thuật số, trong năm đầu của thế ký 21 người ta đang nói đến thế hệ điện thoại di động thứ 3 có 9 truy cập internets hết sức dễ dàng, mọi nơi mọi lúc và hiện nay điện thoại thông mình, sự xuất hiện thế hệ thứ 5 của điện thoại di động là mạng 5G, và ngay năm 2020 đã chính thức ra mắt mạng di động ảo Reddi sử dụng đầu số 055.
mang lại nhiều tiện ích và ứng dụng rộng rãi trong tương lai. - Hàm lượng tri trức trong dịch vụ chiểm tỷ lệ lớn: Sản xuất sản phẩm hàng hoá phụ thuộc và rất cần có thiết bị máy móc, nguyên liệu hiện đại, kho lưu trữ đồ sộ, nhưng để sản xuất, cung cấp dịch vụ thì yếu tố con người giữ vai trò quan trọng nhất, thể hiện qua quá trình sử dụng chất xám và các kỹ năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của các dịch vụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức mạnh cơ bắp, ở nguyên vật liệu tốt hay các dây chuyền sản xuất hiện đại, tiên tiến. Ví như, để phẫu thuật chữa bệnh, bác sĩ ngoại khoa rất cần có trang bị thiết bị kỹ thuật hiện đại, nhưng đó không phải là tất cả mà để cứu chưa người bệnh thì “bàn tay vàng” của bác sĩ, tài năng của kíp mổ mới quyết định. Doanh nghiệp quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, người LVTS Quản trị kinh doanh lao động, tức góp phần nâng cao hàm lượng tri thức trong dịch vụ.
Khái niệm về dịch vụ công: Dịch vụ công được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu cơ bản, thiết yếu của xã hội và người dân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay uỷ quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Trong bối cảnh của Việt Nam, Đinh Văn Ân & Hoàng Thu Hoà(2006)[1], Đỗ Thị Hải Hà & Mai Ngọc Abnh(2015)[3], đã phân loại dịch vụ công dựa theo tính chất và tác dụng của dịch vụ: (i) Dịch vụ công căn bản (còn được gọi là dịch vụ công truyền thống): là dịch vụ đảm bảo vai trò cai trị, quản lý của nhà nước, sự nghiêm minh của pháp luật, trật tự của xã hội, an toàn của đất nước. như: tòa án, nhà tù, công an, quốc phòng, ngoại giao. Thông thường, dịch vụ công căn bản được nhà nước độc quyền và trực tiếp cung ứng thông qua hệ thống các cơ quan công quyền thuộc bộ máy nhà nước mà ít khi ủy quyền cho cơ quan, tổ chức ngoài bộ máy nhà nước.
Dịch vụ công căn bản có 10 đặc trưng dịch vụ công điển hình được nhà nước cung cấp không thu phí tới mọi đối tượng trong xã hội. (ii) Dịch vụ hành chính công: là dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý hành chính nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được nhà nước ủy quyền cung ứng nhằm phục vụ quyền, nghĩa vụ cơ bản của người dân trong sinh hoạt, đi lại, làm việc, kinh doanh., ví dụ như: cấp phép, hộ tịch, cấp giấy xác nhận, đăng ký, công chứng.