CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu Vấn đề “mối quan hệ” và “mối quan hệ nhân quả” là những nội dung mang nặng tính triết học. Nội dung của vấn đề nghiên cứu trong luận văn thực chất là “vận dụng quan điểm triết học duy vật biện chứng trong dạy học Sinh học nói chung, di truyền học nói riêng. Do sự phát triển của khoa học mà từ khoa học triết học – khoa học của các ngành khoa học đã phát triển và tách ra thành nhiều ngành khoa học chuyên sâu, dần đến tách biệt nhau nên Sinh học ít quan tâm đến triết học và ngược lại triết học ít quan tâm đến Sinh học.
Thực ra triết học là khoa học khái quát, còn các khoa học khác trong đó có Sinh học là khoa học cụ thể, đó là quan hệ như khái quát và cụ thể trong tư duy, nên dù vô tình hay hữu ý thì nghiên cứu giới hữu cơ nói chung, di truyền học nói riêng, nếu không quán triệt quan điểm triết học duy vật biện chứng thì nhận thức về thế giới sống sẽ không đúng với bản chất thực của nó. Dù là nhà Sinh học thuần túy, khi nghiên cứu để đạt những vấn đề nào đó của thế giới sống cũng không thể không vận dụng quan điểm của triết học duy vật biện chứng. Những công trình loại này hiện còn ít, nên kế thừa của luận văn này có những hạn chế. Trên thế giới 1.
Về mối quan hệ Các nhà khoa học duy vật biện chứng đều cho rằng thế giới là vật chất. Lênin khẳng định vật chất không có nghĩa gì khác hơn là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh” [8, trang 180]. Lênin định nghĩa vật chất như sau “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác” [8, trang 181]. Về vấn đề vật chất và vận động Ph.
Ăngghen cho rằng vận động “là thuộc tính cố hữu của vật chất” “là phương thuốc tồn tại của vật chất” [8, trang 185]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng: “mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn hau, giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới” [2, trang 69]. Các nhà triết học duy vật biện chứng coi: “thế giới như là một chỉnh thể thống nhất. Các sự vật, hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới đó vừa cách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau” [8, trang 218].
Về sự phát triển Sự liên hệ và tác động qua lại làm cho các sự vật vận động và phát triển. Quan điểm siêu hình coi sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng. Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng: “khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [2, trang 73]. Trong giới hữu cơ được các nhà duy vật biến chứng quan niệm: “Trong giới hữu cơ sự phát triển biểu hiện ở sinh vật tăng cường khả năng thích nghi của cá thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn, có khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi vật chất giữa cơ thể và môi trường” [8, trang 229].
Quan điểm triết học duy vật biện chứng và sự phát triển của di truyền học N. Dutimin, nhà di truyền học (Liên Xô cũ) đã nêu: “xét về mặt triết học, có thể nói rằng các quan điểm duy vật đã được quán triệt trong tất cả các giai đoạn phát triển của di truyền học và chính nhờ đó mà di truyền học mới có những thành tựu”[7, trang 448]. Trong tác phẩm “Di truyền học đại cương” N. Dutimin đã dành 62 trang trong chương XXVI với tiêu đề: Các vấn đề phương pháp luận ở giai đoạn hiện đại của Di Truyền học tổng hợp.
Trong chương này, tác giả tập trung vào việc khẳng định khoa học nói chung, Di truyền học nói riêng, khi bị vấp ngã là do chưa thể hiện được phương pháp luận khoa học, nghĩa là chưa vận dụng đúng quan điểm duy vật biện chứng trong nhận thức một vấn đề phức tạp như di truyền học. Từ khi xác định được nguyên nhân của tính di truyền, xác định được tính cấu trúc, tính vận động, tính phát triển, làm cho khoa học di truyền được phát triển. Trong nước 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Về mối quan hệ Trong các giáo trình về triết học Mác - Lênin đều quan niệm thế giới là vật chất, vật chất đều có cấu trúc và cấu trúc có những cấp độ khác nhau, do có liên hệ, có tác động qua lại, đặc biệt do tác động giữa những mặt mâu thuẫn làm cho các sự vật, hiện tượng luôn vật động và phát triển.
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng trong thực tại luôn có liên hệ với nhau, qui định lẫn nhau, luôn vận động, biến đổi, không có sư vật nào là cô lập, đứng yên. Thế giới sống được tạo nên bởi các cấp độ tổ chức khác nhau, tạo nên những hệ thống lớn nhỏ khác nhau, nên giữa các cấp độ tổ chức khác nhau hoặc giữa các sự vật khác nhau của mỗi cấp độ luôn có tương tác với nhau. Do đó về phương pháp luận, nhìn nhận sinh giới phải theo quan điểm hệ thống, toàn diện. Theo tiến sĩ Hà Thị Thành (2010) cho rằng trong sinh quyển, mọi loài sinh vật đều có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau và với môi trường [7, trang 67].
Quan niệm biện chứng về sự phát triển trong Sinh học Cho đến nay, trong mỗi nội dung Sinh học ở từng cấp, từng lớp đều được nghiên cứu về sự phát triển của thế giới sống. Tùy từng lớp mà mức độ nghiên cứu có khác nhau, đầu tiên là xác định được về tổ chức các cơ quan, từ ngành Tảo chưa có rễ, thân, lá lên đến ngành Rêu tuy chưa có rễ thật nhưng thân, lá có mạch dẫn, đến ngành Quyết có rễ, thân, lá thật, đến ngành hạt trần tuy chưa có hoa nhưng đã có cơ quan tạo và bảo vệ hạt, ngành hạt kín, có hoa, quả và hạt. Tương tự như vậy trong Sinh học lớp 7, lớp 8 cũng đề cập đến sự tiến hóa của động vật. Cùng với phát triển về tổ chức theo hướng ngày càng cao thì phát triển về chức ăng theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Đến lớp 12 được học khá kĩ về sự phát triển của sinh giới, đi sâu đề cập đến: Bằng chứng tiến hóa Nguyên nhân tiến hóa Nhân tố tiến hóa Cơ chế tiến hóa… Tóm lại, quan điểm phát triển được thể hiện khá rõ trong chương trình Sinh học ở các cấp. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tiến sĩ Hà Thị Thành đã nêu: “… thông qua việc nghiên cứu cơ chế tiến hóa của sinh giới đã chứng tỏ, thế giới sinh vật là một dạng đặc biệt của vật chất và chúng luôn vận động và phát triển không ngừng” [13, trang 82]. Về quan hệ nhân quả trong Sinh học Trong sách giáo khoa Sinh học ở các cấp, khi xác định kiến thức bản chất của các hiện tượng Sinh học, đặc biệt trong các nội dung giải thích nguyên nhân của sự biểu hiện các hiện tượng đã rất quan tâm đến mối quan hệ nhân quả, nghĩa là đã quán triệt quan điểm “nhân – quả”. Về vận dụng quan hệ nhân quả trong dạy học Sinh học, thường được các nhà Sinh học diễn đạt dưới dạng các yếu tố và cơ chế tác động của các yếu tố sản sinh ra một sự vật hay một hiện tượng nào đó.
Do đó, nhiều nội dung có nguyên nhân gây ra, tạo thành kết quả, nhưng hiểu nó cũng còn có những mức độ khác nhau. Từ năm 2010, Tiến sĩ Hà Thị Thành, với học vị Tiến sĩ Sinh học giảng dạy tại khoa triết học, học viện báo chí và tuyên truyền, đã nghiên cứu và xuất bản tài liệu “Một số vấn đề triết học trong Sinh học”. Với những lí luận cơ bản về triết học duy vật biện chứng và những phân tích về cấu trúc của tổ chức sống, về hoạt động sống, đã làm sáng tỏ các luận điểm về cấu trúc vật chất của thế giới sống, giữa các thành phần cấu trúc thế giới sống, giữa các mặt khác nhau trong mỗi cấu trúc có mối liên hệ chặt chẽ. Trong đó có mối quan hệ nhân quả, do có quan hệ, có tương tác nên thế giới sống luôn phát triển theo các qui luật cơ bản của triết học duy vật biện chứng.
Việc quán triệt quan điểm triết học duy vật biện chứng để nghiên cứu Sinh học là điều vô cùng cần thiết, trong đó xác định được nguyên nhân sản sinh ra các hiện tượng Sinh học nói chung, sản sinh ra các hiện tượng di truyền nó, biến dị nói riêng, đặc biệt xác định được nguyên nhân sản sinh ra sự truyền đạt tính di truyền qua các thế hệ, chắc chắn sẽ nâng cao được chất lượng dạy học Sinh học nói chung, di truyền học nói riêng. Mối quan hệ trong thực tại khách quan 1. Khái niệm về mối quan hệ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì: quan hệ là sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi thì có thể tác động đến sự vật kia [12]. Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trong thực tại khách quan luôn có quan hệ với nhau, chúng không tồn tại biệt lập.
Trong thực tại, mối quan hệ mang tính khách quan, tính phổ biến. Các dạng quan hệ của các sự vật, hiện tượng Theo giáo trình triết học Mác – LêNin thì quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng bao gồm: - Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài - Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu - Mối liên hệ chung và mối liên hệ riêng - Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp - Mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất - Mối liên hệ tất yếu và môi liên hệ ngẫu nhiên - Mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của cùng một sự vật - Mối liên hệ giữa các giai đoạn vận động, phát triển khác nhau của sự vật[8].