phần Mở Đầu. Điều này phản ánh sự quan trọng của công nghệ trong giáo dục tại Việt Nam. Việc tồ chức hội thảo, hội nghị nhằm mục đích chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và các thành công trong việc tích họp công nghệ vào quá trình giảng dạy và đào tạo giáo viên. Các hội nghị bàn về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo bốn mô hình: dạy học có hướng dẫn, dạy học phát hiện, dạy học kiếm nghiệm và dạy học trợ giúp.
Trong đó, Nguyễn Bá Kim (2015) [9] đà đưa Tin học vào trường phổ thông từ thế kỉ XX. Trịnh Thanh Hải và các cộng sự (2005) [6] đã đưa ứng dụng CNTT vào dạy học môn Toán và nhận thấy một số khía cạnh sau: - GV có thể điều chỉnh quá trình dạy học dựa trên thông tin phản hồi từ phần mềm Toán học: khi vào các tiết học thì cả GV và HS sẽ dựa vào nội dung bài học để đặt ra các câu hòi, dựa vào lý thuyết, sử dụng phần mềm để dự đoán trước kết quả có thể xảy ra của GV và HS. Sau đó tiến hành sử dụng phần mềm Toán học để cho ra kết quả số liệu thực tế và so sánh với những dự đoán ban đầu. 6 - GV có thế sử dụng mô hình đồ thị trên máy tính và mô hình trực quan khi dạy môn Toán hình học.
- GV có thể thực hiện tính toán kết hợp với việc sử dụng phần phềm học Toán để vể và phát hiện những mối quan hệ trong Toán học. Ví dụ như tìm điểm cố định, tìm tập hợp điểm, thực hiện tính toán nhanh chóng và xem xét sự thay đổi của đồ thị khi biến đổi các tham số,. - Sử dụng của CNTT trong học Toán giúp học sinh và giáo viên có thể tận dụng môi trường học tập đa dạng và đào tạo chất lượng mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời, CNTT chứa đựng một kho tàng tri thức Toán học của loài người mà ai cũng có thề khai thác, sử dụng và chia sẻ, tạo ra một môi trường học tập tích cực và sáng tạo trong dạy và học môn Toán.
- Sử dụng CNTT đà được áp dụng nhiều hơn ở nước ta trong việc phát triển tư duy toán học, nó như một công cụ hồ trợ dạy học trong môn Toán. Như vậy, nghiên cứu về việc sử dụng CNTT vào giáo dục Toán học đã là một xu hướng được nhiềư người quan tâm nghiên cứu và ngày càng được các nhà giáo dục chú trọng trong dạy học. Vì vậy, nghiên cứu về sử dụng GeoGehra trong dạy học hình học 9 cấp Trung học cơ sở có vai trò vô cùng quan trọng. Trong các bài báo [11], [12] Lê Tuấn Anh (2015) đã quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng phần mềm GeoGebra của sinh viên sư phạm ngành Toán, có thể xem GeoGebra như một công cụ để khám phá Toán trong dạy và học Toán và thực trạng sử dụng phần mềm này trong chương trình đào tạo GV Toán của trường ĐHSP Hà Nội.
Nguyễn Danh Nam (2012) [18] đã nghiên cứu sử dụng phần mềm GeoGebra trợ giúp tương tác, tạo ra các cuộc tranh luận trong quá trinh chứng minh. Trần Trung, Nguyễn Ngọc Giang, Bùi Minh Đức và Phan Anh Hưng (2014) [20] đã nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá với sự hỗ trợ của phần mềm GeoGebra. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán 1. Định hướng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán 7 Khái niệm công nghệ: khái niệm về công nghệ có thế được hiếu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và sự đối lập trong cách hiếu này có thể ảnh hưởng đến cách quản lý và áp dụng công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau.
Theo đó có hai quan điểm mang tính chất đối lập nhau khi nói về công nghệ. Theo quan điểm một (quan niệm Phi Vật thể) thì công nghệ được hiểu là một tập hợp các kiến thức, bí quyết, kỹ thuật và phương pháp để giải quyết vấn đề, thực hiện một nhiệm vụ hoặc đạt được một mục tiêu, không nhất thiết liên quan đến các đối tượng vật thể như máy móc, thiết bị mà quan trọng là khả năng áp dụng kiến thức để đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề; Quan điểm thứ 2 (quan niệm Vật thể) cho rằng: công nghệ không chỉ bao gồm kiến thức và phương pháp mà còn liên quan đến các đối tượng vật thể, máy móc, thiết bị và các sản phẩm kỹ thuật, tập trung vào việc phát triển và sử dụng các công cụ, máy móc để tạo ra sản phẩm, cải thiện hiệu suất và giải quyết vấn đề, công nghệ được hiểu như một sự kết hợp giữa kiến thức và các phương tiện vật thể. Khi xem xét từ mặt ngôn ngữ và chiết nghĩa trong tiếng Việt, thuật ngữ "công nghệ” thường được hiểu là sự kết hợp giữa "công” và "nghệ" tức là nghệ thuật sử dụng công cụ. Theo từ điển Tiếng Việt thì công nghệ là sự áp dụng khoa học vào thực tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì: Có thế hiếu rằng công nghệ được bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó kỹ năng sử dụng, các phương pháp tích hợp trong việc tạo ra sản phâm mang tính hữu hình. Quan điểm và định nghĩa về công nghệ đà trải qua sự mở rộng và phong phú hóa theo thời gian, và định nghĩa của ESCAP (ủy ban Kinh tể và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương) là một trong những bước ngoặt quan trọng đó. Theo định nghĩa của ESCAP, công nghệ không chỉ giới hạn trong việc sản xuất vật chất mới, mà còn được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Điều này bao gồm cả các phần vật thể như máy móc và thiết bị, nhưng cũng mở rộng ra các lĩnh vực không gian như công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng, và nhiều lĩnh vực khác.
Các lĩnh vực công nghệ mới mẻ đã trở thành quen thuộc, và sự hiện đại hóa ngày càng đòi hỏi sự tích hợp của 8 công nghệ trong mọi khía cạnh của đời sống. Điều này thế hiện xu hướng ngày càng mở rộng của khái niệm công nghệ, từ việc đơn giản là sản xuất và sử dụng máy móc đến việc áp dụng và tích hợp công nghệ trong các ngành và hoạt động xã hội đa dạng, tại các trường học ứng dụng CNTT như là máy móc thiết bị để dạy học. Việc áp dụng CNTT trong dạy học đã mang lại nhiều ưu điếm và cơ hội giáo dục. Tích hợp CNTT trong giáo dục có thể tạo ra môi trường tương tác và giúp học sinh khám phá kiến thức mới thông qua việc phân tích, đánh giá các kết quả cúa nội dung bài học.
Trong quá trình dạy học thì ứng dụng CNTT sẽ đem lại những hiệu quả nhất định, trong số đó có hai nhóm yếu tố nhằm quyết định tính hiệu quả đó là đặc trưng riêng của những bộ môn có cần thiết sử dụng CNTT đề dạy học hay không và một trường hợp khác là tính thích ứng của học sinh đối với trải nghiệm CNTT. Theo phương pháp truyền thống thì giáo viên thường hay dùng lời nói và cử chỉ phi ngôn ngữ để mô tả nhưng có những từ ngữ, những hình ảnh, tính chất liên quan môn học rất khó mô tả vì thế GV có thể sử dụng CNTT để làm công cụ truyền đạt mang tính thay thể. Sự ra đời của CNTT đã mang lại một kỷ nguyên mới, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Nó tác động mạnh mẽ và làm thay đối cách giáo dục như thay đổi nội dung học tập, chuyển đổi phương pháp dạy và học, tăng cường tự học và tự quản lý,.
CNTT đã trở thành “xã hội học tập”. Hiện nay, với sự phát triển các phần mềm Toán học thì CNTT đã trở thành yếu tố chủ chốt. Với nhừng kho tàng nội dung bao gồm lý thuyết, bài tập thực hành, tình huống đa dạng được chứa đựng trong các phần mềm Toán học đã giúp học sinh có thể phát triển tư duy đầy đủ hơn, chúng có thể phát triển năng lực tự lập hơn với những bài giảng có thể được xem trước. GV Toán có thể lựa chọn những ứng dụng có thể phục vụ riêng biệt cho nội dung giảng dạy chẳng hạn như phần mềm hình học, đại số,.
Ví dụ, CNTT giúp GV tạo ra các học liệu, hình ảnh đồ họa đẹp mắt, sinh động chất lượng hay GV có thế lưu giừ các học liệu liên quan đến dạy học với một 9 dung lượng lớn và có thể soạn giáo án trên máy và in ra (nếu cần) không mất nhiều thời gian. Tận dụng các ứng dụng trình chiếu như powerpoint khi thực hiện giảng dạy. CNTT giúp giáo viên tạo ra nhiều trò giải trí trong tiết học để giúp cải thiện trạng thái học tập tốt hơn của học sinh, kích thích niềm dam mê học hởi của HS. Với các phần mềm mang tính chuyên biệt có thế giúp giáo viên dạy Toán ứng dụng dạy học như: GSP, Cabri II Plus, Cabri 3D, Maple, GeoGebra,.Những phàn mềm này giúp giáo viên tiết kiệm thời gian hơn đối với dạy học thủ công và giúp học sinh có thể phát triển tư duy Toán học.
Qua đó việc dạy học giải toán ngày càng đạt hiệu quả. Hình thức sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán đã phát triển mạnh mẽ và được áp dụng rộng rãi trong nhiều hình thức giáo dục, bao gồm giáo dục chính qui và không chính qui. Dưới đây là một số mô hình phố biến: a) Giảng dạy bằng bài giảng điện tử Các bài giảng này đã được giáo viên thiết kế sẵn và trong giờ học giáo viên sẽ trình bày cho học sinh, sinh viên. Đặc điểm của hình thức này là có thể tích hợp đa dạng các hình thức: âm thanh, hình ảnh,.
giúp học sinh cảm thấy sinh động và không bị nhàm chán trong giờ học. Giáo viên sẽ không mất quá nhiều thời gian để trình bày nội dung thay vào đó quá trình thảo luận giữa HS và GV sẽ tăng lên đế cải thiện hiệu quả bài học. Ngược lại, phương pháp giảng dạy này cũng sẽ tạo ra những bất lợi bên ngoài mặt lợi ích. Đối với một số môn học, nội dung bài học rất khó có thể mô tả hoặc sử dụng bài giảng điện tử, phương pháp truyền thống vẫn cần phải kết hợp với bài giảng điện tử nhàm đem lại tính hữu hiệu cao nhất.
b) Sử dụng các phần mềm ho trợ Các phần mềm dạy Toán cần được sử dụng nhiều hơn, rộng rãi hơn nhưng phải đảm bảo tính phù hợp thì mới đem lại hiệu quả cao.