Chương 1: Tổng quan tình hình nghien cứu lien quan đến đề tài luạn án. Chuong này trình bày kết quả của những cong trình nghien cứu đi truớc tren thế giới và ở Viẹt Nam về vấn đề bảo hiểm y tế dành cho người khuyết tật. Từ đó, tác giả phát hiẹn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn mà các cong trình nghien cứu đi truớc chua giải quyết đuợc, và mở ra các huớng nghien cứu mới trong lĩnh vực này. Chương 2: Co sở l luạn và phương pháp.
Chương này trình bày các khái niẹm cong cụ, lý thuyết vạn dụng trong nghien cứu, phương pháp nghiên cứu và khái quát chung về địa bàn nghiên cứu. Chương 3: Nhạn thức, nhu c u về bảo hiểm y tế và mức độ sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh của nguời khuyết tật Chương 3 là một trong hai chương kết quả nghiên cứu của luận án. Chương này bàn về chủ thể NKT tìm kiếm sự giúp đỡ hoạc hành đọng nhằm phục hồi sức khỏe của bản than tại các khu vực y tế phi chính thức và chính thức can cứ tren nhạn thức và nhu cầu về cham sóc sức khỏe và khám chữa bẹnh của họ. Ngoài ra, chương này s lồng ghép phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nhạn thức, nhu cầu và mức độ sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh của nguời khuyết tật.
Chương 4: Đánh giá của nguời khuyết tật về khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế Tiến trình phân tích của chương này s đi theo quy trình khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của nguời khuyết tật, bao gồm các đánh giá của nguời khuyết tật về: (1) thủ tục khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT, (2) chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bằng BHYT, và (3) mức thanh toán của BHYT đối với các dịch vụ khám chữa bệnh. Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của nguời khuyết tật tiếp tục được lồng ghép phân tích trong chương này. T NG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI Trong hệ thống trợ giúp xã hội, bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những trụ cột của an sinh xã hội quốc gia và là mọt trong các chủ đề đuợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích. Nọi dung chính trong chuong này là t ng hợp các công trình nghiên cứu đi truớc, liên quan tới chủ đề về lĩnh vực bảo hiểm y tế cho người khuyết tật.
Từ đó, luạn án chỉ ra những tồn tại trong lĩnh vực nghiên cứu về tình hình sử dụng bảo hiểm y tế khi đi khám chữa bệnh của nguời người khuyết tật và đua ra huớng nghiên cứu mới trong luạn án này. Khi xem xét và t ng hợp các nghiên cứu đi truớc, luạn án chia ra 3 nhóm chủ đề, gồm: những nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho người khuyết tật; những nghiên cứu về vấn đề BHYT cho người khuyết tật; những nghiên cứu về hoàn thiện chính sách, pháp luật BHYT; 1. Những nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho ngƣời khuyết tật Công ước 102 của ILO, chỉ ra rằng, An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ng ng ho c giảm s t đáng kể về thu nhập‖. T chức này đã chia an sinh xã hội thành 9 nhánh: (1) hệ thống luật đảm bảo chăm sóc sức khỏe, (2) trợ cấp ốm đau, (3) trợ cấp thất nghiệp, (4) trợ cấp tu i già, (5) trợ cấp tai nạn nghề nghiệp, (6) trợ cấp gia đình, (7) trợ cấp sinh sản, (8) trợ cấp cho tình trạng không tự chăm sóc bản thân vì ốm đau hay thương tật, (9) trợ cấp cho những lúc nguy hiểm và khó khăn.
Điểm qua các nội dung và công trình nghiên cứu về chính sách xã hội và an sinh xã hội liên quan tới NKT trong lịch sử, có thể nhận thấy rằng, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các nhóm chủ đề chính: - Nhóm chủ đề nghiên cứu thực nghiệm đối với các đối tượng cụ thể hưởng lợi từ chính sách xã hội và phúc lợi xã hội; - Nhóm chủ đề nghiên cứu về các phương thức thay đ i các chính sách xã hội và phúc lợi xã hội hướng đến mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Nửa đầu những năm 1980 đến đầu những năm 1990, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế xã hội và những chuyển biến bước đầu đến Đ i Mới, vấn đề chính sách xã hội thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu và người làm chính sách. Các đề tài 17 nghiên cứu T m quan trọng của việc tổ chức lại hệ thống an sinh xã hội ở nông thôn trong điều kiện mới và những đường nét chính (1990), Sự c n thiết cấp bách của một quan điểm l luận chủ đạo mới về hệ thống chính sách xã hội quốc gia (1991) đã chỉ ra được mục tiêu cần hướng đến trong lĩnh vực chính sách xã hội và phúc lợi xã hội đó là làm rõ cơ sở lý luận, xây dựng nội dung lý thuyết. Tuy nhiên, các nghiên cứu thời điểm này vẫn còn thiếu sự kết nối hữu cơ giữa tri thức, lý thuyết và phương pháp thực nghiệm.
Nhiều nghiên cứu thực tế đề cập tới những chủ đề chính sách xã hội khác nhau, nhưng phần lớn dựa trên kiểu nghiên cứu kinh nghiệm truyền thống. Các công trình thuộc loại này chỉ mới đưa ra những cách luận giải chung chung, khó phục vụ cho việc thao tác hóa khái niệm để áp dụng nghiên cứu thực nghiệm. Mặt khác, những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào hai vấn đề then chốt đang n i lên, đó là việc phân b không đồng đều nguồn lực phúc lợi trong các giai tầng và nhóm xã hội; việc định hình vị thế xã hội chưa rõ ràng và phân b nguồn lực thiếu công bằng cho các loại chủ thể khác nhau cùng hoạt động trong hệ thống phúc lợi. Cụ thể uận đề về phân bố không gian đia l của mô hình sắp xếp gia đình theo nơi cư tr (1997) đã đưa ra được ý nghĩa về sự phân b gia đình theo không gian địa lý có những tác động như thế nào đến các chính sách xã hội và phúc lợi xã hội.
Không những vậy, các nghiên cứu đã nỗ lực đi sâu nhận diện những đặc trưng của hệ thống phúc lợi xã hội quốc gia Một phân tích về ph c lợi xã hội quốc gia, nêu lên 10 đ c điểm/vấn đề cơ bản (1999), nghiên cứu này đã t ng kết được 10 đặc điểm và vấn đề cơ bản của phúc lợi xã hội ở Việt Nam. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về chính sách phúc lợi cho người cao tu i bước đầu được tiến hành như Một phân tích c hệ thống đ u tiên đối với dân số học về sự già h a và chính sách người cao tuổi Việt Nam (1999); Cũng trong những nghiên cứu mang tính lý luận về hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú (1999) đã đưa ra Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang kính tế thị trường – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này được dựa trên xem xét, nghiên cứu một số mô hình và kinh nghiệm quốc tế có lựa chọn, thực tiễn chính sách xã hội ở Việt Nam, nhằm định hướng lâu dài cho khung chính sách xã hội ở Việt Nam, tạo ra nền tảng cho sự phát triển; đồng thời đề 18 ra một số kiến nghị cụ thể, một số mô hình cải cách đối với bốn lĩnh vực tồn tại nhiều vấn đề ở thời điểm đó: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bồi thường tai nạn lao động và bảo hiểm thất nghiệp. Những kết quả này góp phần vào việc thảo luận cái cách chính sách xã hội hiện hành.
Nghiên cứu khác về chăm sóc sức khỏe cho đồng bào vùng cao, phúc lợi xã hội cho các t chức xã hội dân sự; mô hình ba bên trong lĩnh vực phúc lợi (chính phủ, doanh nghiệp, công đoàn) như Xây dựng khái niệm ph c lợi xã hội, uận đề về ba mô hình ph c lợi xã hội ở Việt Nam‖ (1999); phúc lợi doanh nghiệp Khởi đ u hướng nghiên cứu về ph c lợi doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội công ty (2000) hoặc một số công trình đã vận dụng những luận đề và sơ đồ này đề nghiên cứu về tư tưởng phúc lợi xã hội Hồ Chí Minh. Năm 2001, Viện Xã hội học đã tiến hành đề tài tiềm lực cấp viện nhằm mục tiêu tìm hiểu những khía cạnh về phúc lợi xã hội trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể uận đề về tư tưởng ph c lợi xã hội Hồ Chí Minh (2001) bước đầu cho phép đưa ra ý kiến có một tư tưởng phúc lợi xã hội Hồ Chí Minh trong di sản, phác họa được một số điểm chính trong tư tưởng phúc lợi Hồ Chí Minh. Ngoài các đề tài lớn, các đề tài thiên về nghiên cứu lý luận, các nghiên cứu về phúc lợi xã hội và chính sách xã hội cũng xuất hiện khá nhiều những công trình thực nghiệm liên quan đến các bộ phận hợp thành của hệ thống phúc lợi và chính sách xã hội của quốc gia.
Có thể liệt kê t ng thể các nghiên cứu này như sau: về mặt khu vực, các chương trình nghiên cứu cũng đã tìm hiểu về các lĩnh vực ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cứu trợ xã hội (từ những năm 1991); về nhóm đối tượng, có những khảo sát về người cao tu i (từ những năm 1991), trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (từ những năm 1993), người khuyết tật (từ những năm 1999), sức khỏe, y tế và giáo dục ở người dân tộc thiểu số (từ năm 1992)… tất cả các nghiên cứu này tập trung làm sáng tỏ hoàn cảnh sống và chính sách xã hội của Nhà nước đối với các nhóm đối tượng hưởng lợi hoặc chịu ảnh hưởng từ các chính sách xã hội và phúc lợi xã hội.