chương 1 em đã tập trung trình bày lý thuyết về bản đồ tư duy: khái niệm bản đồ tư duy, các bước tạo nên một bản đồ tư duy, hướng dẫn sử dụng 18 phần mềm iMindMap vẽ bản đồ tư duy. Đồng thời đã nêu lên vai trò ứng với thực tiễn việc dạy học trong trường học nói chung và đối với môn Toán trường THPT nói riêng. Qua đó khẳng định việc sử dụng BĐTD trong giảng dạy và học tập môn Toán trường THPT là hoàn toàn phù hợp. SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP MÔN TOÁN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.
Những thuận lợi và khó khăn cơ bản của việc sử dụng bản đồ tƣ duy trong giảng dạy và học tập Toán ở trƣờng trung học phổ thông (THPT) 2. Thuận lợi Đối với giảng dạy: Giảng dạy sử dụng BĐTD mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được trong bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của nhà trường. Nếu không sử dụng phần mềm, GV có thể linh động sử dụng hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp HS có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học. Dùng BĐTD để minh họa sẽ làm giảm tính trừu tượng của nội dung bài học.
Trong một thời gian ngắn có thể khái quát được một khối lượng kiến thức lớn, có logic giúp HS tìm hiểu được bản chất quy luật, xâu chuỗi các kiến thức và tái hiện lại tri thức khi cần thiết. GV tiết kiệm thời gian soạn giáo án, tăng tính sáng tạo. Các phần mềm iMindMap giúp công việc dễ dàng, nhanh chóng, dễ chỉnh sửa, giúp GV ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả và thiết thực trong quá trình dạy học. BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau, vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,.
và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác. Đây là phương pháp thuận lợi để GV chuyển tải thông tin vào bộ não của HS. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả giúp “sắp xếp” ý nghĩ của HS; BĐTD là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc DH để đạt được những hiệu quả nhất định trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực tư duy sáng tạo của HS và đặc biệt là rèn luyện các kỹ năng tự học. Đối với học tập: Mỗi HS có thể tự lập BĐTD cho mình dưới sự hướng dẫn của GV để bài học trở nên dễ thuộc, dễ nhớ hơn.
Cùng một nội dung nhưng 20 các em có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình. Thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự vẽ bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được phần trọng tâm của bài học. Thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây HS có thể hiểu và nắm được khái niệm qua hình vẽ.
Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của GV cũng giúp các em nhớ được phần trọng tâm của bài giảng. Sử dụng BĐTD sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng tìm tòi xây dựng kiến thức mới. Nhờ sự liên kết các nét vẽ với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người. BĐTD giúp não bộ liên tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống,… để phát triển, mở rộng ý tưởng.
Sau khi học sinh tự thiết lập BĐTD kết hợp vệc thảo luận nhóm dưới sự gợi ý, dẫn dắt của giáo viên dẫn đến kiến thức của bài một cách nhẹ nhàng BĐTD còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. BĐTD thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỉ lệ nhất định mà là cách hệ thông kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc và thực sự hiệu quả. Giảng dạy theo BĐTD sẽ phát huy tính tích cực nhiều nhất trong các giờ ôn tập. Khi HS trở thành chủ thể, thành nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học, các em sẽ trở nên hào hứng và hăng say hơn trong học tập.
Do BĐTD có điểm mạnh là phát triển ý tưởng nên nó là phương tiện giúp HS khá giỏi phát huy năng lực sáng tạo của mình. Đồng thời BĐTD cho phép nhìn được tổng thể mà lại chi tiết, có thể vẽ nhánh để bổ sung ý tưởng một cách nhanh nhất, vì vậy sau mỗi bài học, mỗi chủ đề, mỗi chương, GV có thể gợi ý giúp các em tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán, tìm kiếm các tính chất, công thức tổng quát hay khái quát hóa một bài toán riêng lẻ, khái quát từ cái 21 tổng quát đến cái tổng quát hơn. Các em HS khá, giỏi có thể phát triển nhánh, đưa thêm công thức tổng quát, các bài toán hay,. vào BĐTD này và vẽ, viết với các màu sắc khác nhau.
Sử dụng BĐTD trong thảo luận nhóm nâng cao kĩ năng giao tiếp, trình bày ý kiến, năng lực phê phán, tư duy sáng tạo. cho HS, đồng thời dạy cách học. Trong thảo luận nhóm, BĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa hóa được nguồn lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kĩ năng thuyết trình và làm việc khoa học.
Sử dụng BĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kì thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học. Các nhánh chính của BĐTD đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định hướng tư duy một cách logic.
Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích thích tính sáng tạo đồng thời hiểu được tư duy cũng như sự tích cực của mỗi thành viên. Hình 3: BĐTD thể hiện thảo luận nhóm 22 2. Khó khăn Đối với giảng dạy: - Đây là phương pháp dạy học mới nên GV không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng,… Đòi hỏi GV có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm; - Một số nội dung, định nghĩa, khái niệm khi sơ đồ hóa không truyền tải hết nội dung khoa học của vấn đề; - BĐTD chưa phải là sự nhận thức đầy đủ về lý luận mà chỉ mới là công cụ để xây dựng lý luận. Phải có sự kết hợp với phương pháp khác để mở rộng kiến thức, liên hệ với thực tiễn, gắn với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Để HS hình thành được các nhánh thì đòi hỏi GV phải có nhiều phương án cùng với những cách đặt câu hỏi gợi mở để định hướng và giúp các em hình thành lên nhánh cấp 1, nhánh cấp 2,. GV sẽ phải mất nhiều thời gian chuẩn bị hơn. Đối với học tập: HS chưa có thói quen chuẩn bị giấy A4, bút màu, bút chì tẩy hoặc bảng phụ trong tiết dạy học hằng ngày. Mặt khác HS chưa hiểu rõ các thể hiện nội dung, kiến thức như thế nào trong việc thiết kế và sử dụng BĐTD.
Ngoài ra các sơ đồ giấy thường khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa,… HS chưa quen với cách vẽ BĐTD. Sử dụng bản đồ tƣ duy trong học tập môn Toán ở trƣờng THPT 2. So sánh cách học truyền thống với cách học sử dụng bản đồ tư duy Trong BĐTD từ khóa truyền tải các ý tưởng quan trọng – thường là danh từ hay động từ giúp ta hồi ức những chùm tia ý tưởng liên kết mỗi khi đọc hay nghe thấy nó. Theo lối ghi chú thông thường, những từ khóa thường rải ra trên nhiều trang giấy và bị chìm khuất trong một rừng chữ không quan trọng.
Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các khái niệm trọng tâm. Các ghi chú bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán thị giác, khiến não khước từ và bỏ quên chúng đi. Hơn nữa, lối ghi chú thông thường thường là hàng dãy liệt kê, bất tận và không hình ảnh, không có gì khác biệt. Sự buồn tẻ ấy 23 khiến não vào trạng thái bị thôi miên, nửa mê nửa tỉnh nên hầu như chẳng thể nhớ nổi nội dung gì.
Còn BĐTD sử dụng các hình ảnh, màu sắc, đường nét, kích thước, kết cấu, nhịp điệu thị giác làm kích thích não làm việc hiệu quả hơn, có khả năng gợi nhớ liên kết phong phú, mạnh mẽ, chính xác hơn, kết quả là tăng cường hoạt động ký ức và tư duy sáng tạo. Thay vì chỉ dẫn đến ghi chú cái không cần thiết, đọc những ghi chú không cần thiết, buộc ta phải truy tìm từ khóa làm cho não bộ mất tập trung, lãng phí thời gian như phương pháp ghi chú thông thường, BĐTD chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50% – 95% thời gian, chỉ đọc các từ liên quan, tiết kiệm 90% thời gian tránh dò tìm các từ khóa trong một rừng chữ dài dòng, dễ dàng nhận biết các từ khóa thiết yếu. BĐTD cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khóa thiết yếu. Tạo mối liên kết mạch lạc, tối ưu giữa các từ khóa.
Không như các bản ghi chú tuần tự đơn điệu, tẻ nhạt, não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ những BĐTD kích thích thị giác, đa sắc và đa chiều hơn. Suốt quá trình thực hiện BĐTD, chúng ta luôn bắt gặp các cơ hội khám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận. Trong khi đó lối ghi chú theo dạng liệt kê, khi ta phát sinh một ý tưởng thì nó lại cắt rời các mối liên kết hệ thống với những ý tưởng đi trước và đi sau làm kiềm kẹp tư duy, khiến tư duy đình trệ, thu hẹp các lộ trình tư duy trên não và hậu quả là mỗi lúc càng thu hẹp khả năng sáng tạo, hồi ức.