Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm về stress Thuật ngữ về stress hay căng thẳng được xuất hiện nhiều trong đời sống hằng ngày và luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm. Nó được hiểu đơn thuần là trạng thái khó chịu và áp lực của mỗi cá nhân. Tuy nhiên trong ngành tâm lý học, đây là một ngành khoa học đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng về hành vi và sức khỏe lại hiểu stress dưới một góc độ khác.Cannon lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về y sinh học.
Định nghĩa của Walter Cannon tập trung nhiều vào khía cạnh sinh học của stress. Stress được hiểu là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó [8]. Tuy nhiên, người có công lớn nhất trong việc đưa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là Hans Selye. Theo ông, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những kích thích từ môi trường.
Đến năm 1950, ông đã xem stress là sự tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể đối với tác nhân đó. Sau nhiều năm nghiên cứu stress, Hans Selye đã đưa ra kết luận sau: “Stress là nhịp sống luôn có mặt trong sự tồn tại của chúng ta”. Mỗi tác động đến một cơ quan nào đó trên cơ thể đều gây ra stress [9]. Sau những phát hiện của Hans Selye đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu stress.Lazarus và đồng nghiệp đã đưa ra một cách nhìn hoàn toàn mới về stress.
Theo ông “Stress như một quá trình tương tác đặc biệt giữa con người với môi trường. Trong đó, chủ thể nhận thức sự kiện từ môi trường như là sự thử thách, sự hụt hẫng hoặc như một đòi hỏi mà chủ thể không thể ứng phó được, chủ thể phải đối mặt với nguy hiểm”. Dựa vào những lý luận về stress được đưa ra, GS. Tô Như Khuê là người đầu tiên nghiên cứu stress ở Việt Nam dưới góc độ sinh lý học và y học.
Ông cho rằng : “Stress là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu, phổ biến đối với 3 các tình huống mà con người cho là bất lợi hoặc bị đe dọa (chủ quan), ở đây vai trò quyết định không phải là do tác nhân kích thích mà do đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [9,10]. Như vậy, từ các góc độ khác nhau stress sẽ được hiểu dưới những định nghĩa khác nhau. Trong điều kiện bình thường, stress là một phản ứng thích nghi về mặt tâm sinh lý xã hội với môi trường xung quanh. Trong phạm vi của nghiên cứu này, định nghĩa về stress dựa trên khía cạnh sinh lý học và y học của GS.
Tô Như Khuê được chúng tôi sử dụng để định nghĩa tình trạng stress của sinh viên do định nghĩa này phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu. Đặc điểm stress của sinh viên Y khoa 1. Các yếu tố gây stress Theo nhiều nghiên cứu về stress đối với các đối tượng sinh viên cả trong nước và ngoài nước, việc xác định các yếu tố gây stress không phải là một vấn đề dễ dàng. Trên thực tế, các trường Y Dược được biết đến là một môi trường căng thẳng dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất học tập, sức khỏe thể chất và tâm lý.
Vì vậy, stress được hình thành do nhiều yếu tố khác nhau kết hợp lại. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chia các yếu tố gây stress thành: Yếu tố cá nhân, yếu tố học tập và yếu tố gia đình, bạn bè, xã hội. Yếu tố cá nhân Giới Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, nữ giới có tỷ lệ stress cao hơn nam giới. Nghiên cứu của Hamza M.Abdulghani và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên đối tượng là sinh viên từ năm nhất đến năm thứ năm tại Trường Đại học y khoa, Đại học King Saud ở Ả Rập Saudi để đánh giá stress và các ảnh hưởng của stress đối với sinh viên y khoa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress cao hơn (p < 0,5) ở nữ (75,7%) so với năm giới (57%) (OR = 2. 4 Nghiên cứu của 04 tác giả Saumik Chakraborty, Sharmistha Bhattacherjee, Abhijit Mukherjee và Kaushik Ishore (2016) đã khảo sát tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên y khoa và bác sĩ cơ sở tại một Trường Đại học Y khoa Ấn Độ. Nghiên cứu sử dụng thang đo là DASS 21 trên 678 sinh viên y khoa. Kết quả cho thấy tỷ lệ stress cao đáng kể có liên quan đến giới tính nữ [AOR = 0,021 (0,408; 0,930)] [11].
Tuổi Theo nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng, độ tuổi càng lớn có liên quan đến mức độ stress càng nặng. Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2017) dùng thang đo DASS 21 để đánh giá tỷ lệ và các yếu tố liên quan của stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên Đại học Y Fayoum, Ai Cập. Kết quả cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng stress và sinh viên ở độ tuổi trên 20 tuổi, đặc biệt là từ 21 23 tuổi. Trong đó, tỷ lệ stress nặng và rất nặng ở sinh viên > 20 tuổi chiếm đến 69,1% [4].
Nghiên cứu của Phạm Kế Thuận và cộng sự (2020) “Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Khoa Y Dược Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2020” sử dụng thang đánh giá DASS 21 trên 443 sinh viên. Kết quả cho thấy, những sinh viên trên 20 tuổi có tỷ lệ stress cao hơn những sinh viên dưới 20 tuổi gấp 0,56 lần với p=0,02 [12]. Quê quán Những sinh viên sống ở nông thôn thường có nguy cơ stress cao hơn những sinh viên sống ở thành thị. Nghiên cứu của Đoàn Vương Diễm Khánh và cộng sự (2016) sử dụng thang đo PSS-14 để mô tả tình trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Khoa Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Dược Huế.
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 209 sinh viên năm thứ nhất. 5 Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên sinh sống ở tỉnh khác có nguy cơ stress cao gấp 2,83 lần (OR = 2,83; 95%CI = 1,19 – 6,73) so với sinh viên sống trong tỉnh Thừa Thiên Huế [13]. Nghiên cứu của Ayat R. Abdallah và Hala M.
Gabr (2014) sử dụng thang DASS 21 để xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên y khoa năm thứ nhất tại Đại học Manoufiya, Ai Cập. Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ 421 sinh viên y khoa năm thứ nhất vào giữa kỳ học đầu tiên trong năm học 2012 2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên sinh sống ở khu vực nông thôn (77,2%) có nguy cơ stress cao gấp 3,38 lần so với sinh viên ở khu vực thành thị (22,8%) [14]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngân và Lê Thành Tài năm 2017 2018 trên sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang lại chỉ ra rằng sống ở thành thị có nguy cơ stress cao hơn sinh viên sống ở nông thôn gấp 1,787 lần, lần lượt là 37,4% và 25,1% (p<0,05) [15].
Nơi ở hiện tại Sinh viên có rất nhiều lựa chọn nơi ở khi chuyển đến một môi trường khác. Có một số sinh viên chọn sống tại ký túc xá, nhà trọ, trong khi số khác chọn sống cùng gia đình và người thân. Nhiều ý kiến cho rằng, việc sống cùng gia đình sẽ giúp cho sinh viên có môi trường tốt nhất để phát triển, giảm bớt lo lắng về mặt tài chính so với những sinh viên sống xa gia đình. Nghiên cứu của Gerry Humphris và cộng sự (2002) thực hiện trên 333 sinh viên nha khoa năm thứ nhất tại 07 trường Nha Khoa Châu Âu.
Kết quả đã cho thấy, sinh viên sống cùng gia đình có dấu hiệu stress thấp hơn so với sinh viên sống xa gia đình (23% và 73% tương ứng) [16]. Nghiên cứu của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh trên 182 sinh viên Y tế Công Cộng Đại học Y Dược TPHCM năm 2010 đã chỉ ra tỷ lệ stress ở sinh viên sống ở nhà trọ và ở nhà người thân cao gấp 4,2 lần sinh viên sống 6 ở ký túc xá ( OR = 4,2; 95%CI = 1,3 13,2 và OR = 4,2; 95%CI = 1,2 14,1 tương ứng) [17]. Tính cách Sinh viên có tính cách hướng nội thường có tỷ lệ stress cao hơn những sinh viên có tính cách hướng ngoại. Theo nghiên cứu trên đối tượng sinh viên Y tế Công Cộng của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh tại Trường Đại học Y Dược TPHCM năm 2010 cho kết quả tỷ lệ sinh viên bị stress bệnh lý có tính cách hướng nội bằng 2,6 lần tỉ lệ sinh viên bị stress bệnh lý có tính cách hướng ngoại (p<0,006) [17].
Thường xuyên luyện tập thể dục Rèn luyện thể dục, thể thao thường xuyên là một lối sống lành mạnh không chỉ giúp sinh viên có sức khỏe về thể chất mà còn tạo một tinh thần thoải mái sau những giờ học tập căng thẳng. Sinh viên có thói quen tập luyện thể theo sẽ có nguy cơ stress thấp hơn những sinh viên không hoặc không thường xuyên rèn luyện. Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự (2016) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá trầm cảm, lo lắng và triệu chứng của stress trên sinh viên điều dưỡng ở Hồng Kông. Kết quả nghiên cứu cho thấy, những sinh viên không thường xuyên tập thể dục có triệu chứng stress cao hơn gấp 1,6 lần những sinh viên thường xuyên rèn luyện thể dục, thể thao (95%CI = 0,44 0,88; p<0,05) [18].
Nghiên cứu của Vũ Dũng (2016) thực hiện trên 303 sinh viên điều dưỡng chính quy của Đại học Thăng Long đã cho thấy những sinh viên thỉnh thoảng tập thể dục cũng như tập thể dục thường xuyên giúp giảm nguy cơ stress mức độ cao so với nhóm sinh viên không bao giờ tập thể dục (OR = 0,33; 95%CI = 0,13 – 0,79) (OR = 0,33; 95%CI = 0,12 – 0,92) [19]. Tình trạng tài chính 7 Không đủ về mặt tài chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ stress ở sinh viên. Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự năm 2016 trên đối tượng sinh viên điều dưỡng đã cho thấy, sinh viên có khó khăn về tài chính có nguy cơ stress cao gấp 1,9 lần so với các sinh viên không có khó khăn (aOR = 1,88; 95%CI = 1,29 – 2,74) [18].