Luận văn thạc sĩ thực trạng stress và một số yếu tố gây stress ở sinh viên năm nhất trường đại học y dược  đhqghn năm học 2022 2023

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng stress và các yếu tố gây stress ở sinh viên năm nhất Đại học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2022-2023.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm về stress

1.2. Đặc điểm stress của sinh viên Y khoa

1.3. Các yếu tố gây stress

1.4. Giới thiệu thang đánh giá cảm nhận về stress PSS - 10 và thang đo đánh giá các yếu tố gây stress dành cho sinh viên Y khoa (MSSQ)

1.5. Các nghiên cứu về stress của sinh viên Y khoa

1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.4.1. Địa điểm nghiên cứu

2.4.2. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

2.5.3. Các biến số nghiên cứu

2.5.4. Công cụ thu thập số liệu

2.5.5. Xử lý số liệu

2.6. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng stress ở sinh viên năm nhất Trường Đại học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2022-2023

3.2. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.3. Tỷ lệ stress của sinh viên năm nhất Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2022-2023

3.4. Tỷ lệ stress của sinh viên theo giới tính

3.5. Một số yếu tố gây stress ở sinh viên năm nhất Trường Đại Học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2022-2023

3.5.1. Giá trị trung bình và tỷ lệ mức độ gây stress của các nhóm yếu tố gây stress

3.5.2. Xếp hạng mười yếu tố gây stress hàng đầu

3.5.3. Các nhóm yếu tố gây stress theo các yếu tố cá nhân

3.5.4. Các nhóm yếu tố gây stress theo giới tính

3.5.5. Các nhóm yếu tố gây stress theo quê quán

3.5.6. Các nhóm yếu tố gây stress theo nơi ở hiện tại

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng stress ở sinh viên năm nhất Trường Đại Học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2022-2023

4.2. Đặc điểm chung của sinh viên năm nhất Trường Đại Học Y Dược - ĐHQGHN

4.3. Thực trạng stress của sinh viên năm nhất Trường Đại Học Y Dược – ĐHQGHN

4.4. Một số yếu tố gây stress ở sinh viên năm nhất Trường Đại Học Y Dược - ĐHQGHN năm học 2022-2023

4.5. Hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Thực trạng stress ở sinh viên năm nhất trường Y Dược

Stress là một vấn đề ngày càng trở nên phổ biến trong cộng đồng sinh viên, đặc biệt là ở sinh viên năm nhất trường Y Dược. Theo nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên gặp phải tình trạng stress ở trường Y Dược - ĐHQGHN năm học 2022-2023 đạt khoảng 42,6%. Điều này cho thấy rằng sinh viên năm nhất không chỉ phải đối mặt với áp lực học tập mà còn với những thay đổi lớn trong môi trường sống và học tập. Những sinh viên này thường cảm thấy căng thẳng do khối lượng kiến thức lớn và yêu cầu cao trong việc học tập. Một nghiên cứu tại Ả Rập Saudi cho thấy tỷ lệ stress ở sinh viên Y khoa lên đến 63,8%, cho thấy rằng đây là một vấn đề nghiêm trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Việc nhận diện và hiểu rõ thực trạng stress ở sinh viên năm nhất là rất cần thiết để có thể đưa ra các biện pháp hỗ trợ kịp thời.

1.1. Tình trạng sức khỏe tâm lý

Tình trạng sức khỏe tâm lý của sinh viên năm nhất trường Y Dược thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Theo thống kê, có khoảng 25% sinh viên rơi vào tình trạng stress nghiêm trọng, điều này có thể dẫn đến các vấn đề về sức khỏe tâm lý như lo âu và trầm cảm. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên nữ có tỷ lệ stress cao hơn so với nam giới, với tỷ lệ lên đến 75,7% ở nữ và 57% ở nam. Điều này cho thấy rằng giới tính có thể là một yếu tố quan trọng trong việc xác định mức độ stress. Ngoài ra, sinh viên sống xa gia đình cũng có nguy cơ cao hơn về stress, điều này có thể do thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè. Việc hiểu rõ tình trạng sức khỏe tâm lý của sinh viên là rất quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp can thiệp hiệu quả.

II. Các yếu tố gây ra stress

Nhiều yếu tố có thể dẫn đến tình trạng stress ở sinh viên năm nhất trường Y Dược. Các yếu tố này có thể được chia thành ba nhóm chính: yếu tố cá nhân, yếu tố học tập và yếu tố xã hội. Yếu tố cá nhân bao gồm giới tính, tuổi tác, quê quán và nơi ở hiện tại. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên nữ có tỷ lệ stress cao hơn nam giới, và sinh viên sống ở nông thôn thường gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thích nghi với môi trường học tập mới. Yếu tố học tập, đặc biệt là áp lực học tập và kết quả học tập, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành stress. Sinh viên phải đối mặt với khối lượng kiến thức lớn và yêu cầu cao trong việc học tập, điều này có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng. Cuối cùng, yếu tố xã hội như tình trạng tài chính và mối quan hệ với bạn bè cũng có thể ảnh hưởng đến mức độ stress của sinh viên.

2.1. Yếu tố cá nhân

Yếu tố cá nhân là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng stress ở sinh viên. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên nữ có tỷ lệ stress cao hơn nam giới, với tỷ lệ lên đến 75,7% ở nữ và 57% ở nam. Điều này có thể liên quan đến áp lực xã hội và kỳ vọng từ gia đình. Ngoài ra, tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng. Sinh viên trên 20 tuổi thường gặp nhiều áp lực hơn, với tỷ lệ stress nặng chiếm đến 69,1%. Quê quán cũng ảnh hưởng đến mức độ stress, sinh viên sống ở nông thôn thường gặp khó khăn hơn trong việc thích nghi với môi trường học tập mới. Những sinh viên sống xa gia đình có nguy cơ cao hơn về stress, điều này có thể do thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè.

2.2. Yếu tố học tập

Yếu tố học tập là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng stress ở sinh viên năm nhất. Áp lực học tập là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Sinh viên Y Dược phải đối mặt với khối lượng kiến thức lớn và yêu cầu cao trong việc học tập, điều này có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có áp lực học tập cao có tỷ lệ stress cao hơn so với những sinh viên không có áp lực học tập. Kết quả học tập cũng ảnh hưởng đến tình trạng stress. Những sinh viên có kết quả học tập dưới khá thường có tỷ lệ stress cao hơn so với những sinh viên có kết quả học tập trên khá. Việc nhận diện và hiểu rõ các yếu tố học tập có thể giúp các nhà quản lý giáo dục đưa ra các biện pháp hỗ trợ kịp thời cho sinh viên.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ thực trạng stress và một số yếu tố gây stress ở sinh viên năm nhất trường đại học y dược  đhqghn năm học 2022 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm về stress Thuật ngữ về stress hay căng thẳng được xuất hiện nhiều trong đời sống hằng ngày và luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm. Nó được hiểu đơn thuần là trạng thái khó chịu và áp lực của mỗi cá nhân. Tuy nhiên trong ngành tâm lý học, đây là một ngành khoa học đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng về hành vi và sức khỏe lại hiểu stress dưới một góc độ khác.Cannon lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về y sinh học.

Định nghĩa của Walter Cannon tập trung nhiều vào khía cạnh sinh học của stress. Stress được hiểu là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó [8]. Tuy nhiên, người có công lớn nhất trong việc đưa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là Hans Selye. Theo ông, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những kích thích từ môi trường.

Đến năm 1950, ông đã xem stress là sự tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể đối với tác nhân đó. Sau nhiều năm nghiên cứu stress, Hans Selye đã đưa ra kết luận sau: “Stress là nhịp sống luôn có mặt trong sự tồn tại của chúng ta”. Mỗi tác động đến một cơ quan nào đó trên cơ thể đều gây ra stress [9]. Sau những phát hiện của Hans Selye đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu stress.Lazarus và đồng nghiệp đã đưa ra một cách nhìn hoàn toàn mới về stress.

Theo ông “Stress như một quá trình tương tác đặc biệt giữa con người với môi trường. Trong đó, chủ thể nhận thức sự kiện từ môi trường như là sự thử thách, sự hụt hẫng hoặc như một đòi hỏi mà chủ thể không thể ứng phó được, chủ thể phải đối mặt với nguy hiểm”. Dựa vào những lý luận về stress được đưa ra, GS. Tô Như Khuê là người đầu tiên nghiên cứu stress ở Việt Nam dưới góc độ sinh lý học và y học.

Ông cho rằng : “Stress là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu, phổ biến đối với 3 các tình huống mà con người cho là bất lợi hoặc bị đe dọa (chủ quan), ở đây vai trò quyết định không phải là do tác nhân kích thích mà do đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [9,10]. Như vậy, từ các góc độ khác nhau stress sẽ được hiểu dưới những định nghĩa khác nhau. Trong điều kiện bình thường, stress là một phản ứng thích nghi về mặt tâm sinh lý xã hội với môi trường xung quanh. Trong phạm vi của nghiên cứu này, định nghĩa về stress dựa trên khía cạnh sinh lý học và y học của GS.

Tô Như Khuê được chúng tôi sử dụng để định nghĩa tình trạng stress của sinh viên do định nghĩa này phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu. Đặc điểm stress của sinh viên Y khoa 1. Các yếu tố gây stress Theo nhiều nghiên cứu về stress đối với các đối tượng sinh viên cả trong nước và ngoài nước, việc xác định các yếu tố gây stress không phải là một vấn đề dễ dàng. Trên thực tế, các trường Y Dược được biết đến là một môi trường căng thẳng dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất học tập, sức khỏe thể chất và tâm lý.

Vì vậy, stress được hình thành do nhiều yếu tố khác nhau kết hợp lại. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chia các yếu tố gây stress thành: Yếu tố cá nhân, yếu tố học tập và yếu tố gia đình, bạn bè, xã hội. Yếu tố cá nhân  Giới Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, nữ giới có tỷ lệ stress cao hơn nam giới. Nghiên cứu của Hamza M.Abdulghani và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên đối tượng là sinh viên từ năm nhất đến năm thứ năm tại Trường Đại học y khoa, Đại học King Saud ở Ả Rập Saudi để đánh giá stress và các ảnh hưởng của stress đối với sinh viên y khoa.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress cao hơn (p < 0,5) ở nữ (75,7%) so với năm giới (57%) (OR = 2. 4 Nghiên cứu của 04 tác giả Saumik Chakraborty, Sharmistha Bhattacherjee, Abhijit Mukherjee và Kaushik Ishore (2016) đã khảo sát tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên y khoa và bác sĩ cơ sở tại một Trường Đại học Y khoa Ấn Độ. Nghiên cứu sử dụng thang đo là DASS 21 trên 678 sinh viên y khoa. Kết quả cho thấy tỷ lệ stress cao đáng kể có liên quan đến giới tính nữ [AOR = 0,021 (0,408; 0,930)] [11].

 Tuổi Theo nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng, độ tuổi càng lớn có liên quan đến mức độ stress càng nặng. Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2017) dùng thang đo DASS 21 để đánh giá tỷ lệ và các yếu tố liên quan của stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên Đại học Y Fayoum, Ai Cập. Kết quả cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng stress và sinh viên ở độ tuổi trên 20 tuổi, đặc biệt là từ 21 23 tuổi. Trong đó, tỷ lệ stress nặng và rất nặng ở sinh viên > 20 tuổi chiếm đến 69,1% [4].

Nghiên cứu của Phạm Kế Thuận và cộng sự (2020) “Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Khoa Y Dược Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2020” sử dụng thang đánh giá DASS 21 trên 443 sinh viên. Kết quả cho thấy, những sinh viên trên 20 tuổi có tỷ lệ stress cao hơn những sinh viên dưới 20 tuổi gấp 0,56 lần với p=0,02 [12].  Quê quán Những sinh viên sống ở nông thôn thường có nguy cơ stress cao hơn những sinh viên sống ở thành thị. Nghiên cứu của Đoàn Vương Diễm Khánh và cộng sự (2016) sử dụng thang đo PSS-14 để mô tả tình trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Khoa Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Dược Huế.

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 209 sinh viên năm thứ nhất. 5 Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên sinh sống ở tỉnh khác có nguy cơ stress cao gấp 2,83 lần (OR = 2,83; 95%CI = 1,19 – 6,73) so với sinh viên sống trong tỉnh Thừa Thiên Huế [13]. Nghiên cứu của Ayat R. Abdallah và Hala M.

Gabr (2014) sử dụng thang DASS 21 để xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên y khoa năm thứ nhất tại Đại học Manoufiya, Ai Cập. Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ 421 sinh viên y khoa năm thứ nhất vào giữa kỳ học đầu tiên trong năm học 2012  2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên sinh sống ở khu vực nông thôn (77,2%) có nguy cơ stress cao gấp 3,38 lần so với sinh viên ở khu vực thành thị (22,8%) [14]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngân và Lê Thành Tài năm 2017 2018 trên sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang lại chỉ ra rằng sống ở thành thị có nguy cơ stress cao hơn sinh viên sống ở nông thôn gấp 1,787 lần, lần lượt là 37,4% và 25,1% (p<0,05) [15].

 Nơi ở hiện tại Sinh viên có rất nhiều lựa chọn nơi ở khi chuyển đến một môi trường khác. Có một số sinh viên chọn sống tại ký túc xá, nhà trọ, trong khi số khác chọn sống cùng gia đình và người thân. Nhiều ý kiến cho rằng, việc sống cùng gia đình sẽ giúp cho sinh viên có môi trường tốt nhất để phát triển, giảm bớt lo lắng về mặt tài chính so với những sinh viên sống xa gia đình. Nghiên cứu của Gerry Humphris và cộng sự (2002) thực hiện trên 333 sinh viên nha khoa năm thứ nhất tại 07 trường Nha Khoa Châu Âu.

Kết quả đã cho thấy, sinh viên sống cùng gia đình có dấu hiệu stress thấp hơn so với sinh viên sống xa gia đình (23% và 73% tương ứng) [16]. Nghiên cứu của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh trên 182 sinh viên Y tế Công Cộng Đại học Y Dược TPHCM năm 2010 đã chỉ ra tỷ lệ stress ở sinh viên sống ở nhà trọ và ở nhà người thân cao gấp 4,2 lần sinh viên sống 6 ở ký túc xá ( OR = 4,2; 95%CI = 1,3  13,2 và OR = 4,2; 95%CI = 1,2  14,1 tương ứng) [17].  Tính cách Sinh viên có tính cách hướng nội thường có tỷ lệ stress cao hơn những sinh viên có tính cách hướng ngoại. Theo nghiên cứu trên đối tượng sinh viên Y tế Công Cộng của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh tại Trường Đại học Y Dược TPHCM năm 2010 cho kết quả tỷ lệ sinh viên bị stress bệnh lý có tính cách hướng nội bằng 2,6 lần tỉ lệ sinh viên bị stress bệnh lý có tính cách hướng ngoại (p<0,006) [17].

 Thường xuyên luyện tập thể dục Rèn luyện thể dục, thể thao thường xuyên là một lối sống lành mạnh không chỉ giúp sinh viên có sức khỏe về thể chất mà còn tạo một tinh thần thoải mái sau những giờ học tập căng thẳng. Sinh viên có thói quen tập luyện thể theo sẽ có nguy cơ stress thấp hơn những sinh viên không hoặc không thường xuyên rèn luyện. Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự (2016) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá trầm cảm, lo lắng và triệu chứng của stress trên sinh viên điều dưỡng ở Hồng Kông. Kết quả nghiên cứu cho thấy, những sinh viên không thường xuyên tập thể dục có triệu chứng stress cao hơn gấp 1,6 lần những sinh viên thường xuyên rèn luyện thể dục, thể thao (95%CI = 0,44  0,88; p<0,05) [18].

Nghiên cứu của Vũ Dũng (2016) thực hiện trên 303 sinh viên điều dưỡng chính quy của Đại học Thăng Long đã cho thấy những sinh viên thỉnh thoảng tập thể dục cũng như tập thể dục thường xuyên giúp giảm nguy cơ stress mức độ cao so với nhóm sinh viên không bao giờ tập thể dục (OR = 0,33; 95%CI = 0,13 – 0,79) (OR = 0,33; 95%CI = 0,12 – 0,92) [19].  Tình trạng tài chính 7 Không đủ về mặt tài chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ stress ở sinh viên. Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự năm 2016 trên đối tượng sinh viên điều dưỡng đã cho thấy, sinh viên có khó khăn về tài chính có nguy cơ stress cao gấp 1,9 lần so với các sinh viên không có khó khăn (aOR = 1,88; 95%CI = 1,29 – 2,74) [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ