Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẶC TRƯNG VĂN HOA - DÂN TỘC CỦA NGÔN NGỮ 1. Khái niệm văn hoá và ngôn ngữ Khi nghiên cứu về vấn đề đặc trưng văn hoá-dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ, câu hỏi đầu tiên được đặt ra cho các nhà nghiên cứu đó là: văn hoá là gì? nó có chức năng gì? Để trả lời cho câu hỏi này, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hiện tượng được gọi là văn hoá. Dưới đây là một vài định nghĩa mà được nhiều nhà nghiên cứu chấp thuận: Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam đã khẳng định: “Văn hoá là sự thích nghi và biến đổi thiên nhiên. Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố.
Văn hoá là sản phẩm của con người, là phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên.Văn hoá, xét ở mỗi cá nhân, cũng như ở mỗi cộng đồng còn là do lịch sử hun đúc nên. Những số phận, vận mệnh lịch sử khác nhau tạo nên những văn hoá khác nhau”. Giáo sư Phan Ngọc cho rằng Văn hoá không phải là kỹ thuật, không phải là hoạt động tinh thần hay hoạt động chính trị xã hội, cũng không phải là phong tục tập quán, mà “văn hoá là dấu ấn của một tập thể cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của tập thể cộng đồng này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường.” [43, 21] Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã phân biệt khái niệm và cấu trúc giữa văn hoá và văn minh. Theo ông, văn hoá chứa đựng cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, mang tính dân tộc và có bề 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dày lịch sử.
Còn văn minh chỉ một trình độ thiên về giá trị vật chất và kĩ thuật, có tính quốc tế. Theo Hà Quang Năng, “văn hoá theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được con người biến đổi, để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một cách nhìn, một quan niệm về vũ trụ, về thế giới với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những cách nhận thức.Văn hoá bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho nó một bề dày, một chiều sâu. Được duy trì bằng cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian nên văn hoá luôn tồn tại và phát triển”.[39, 66] “Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con người tạo ra và được phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự nhiên”. (Từ điển bách khoa Xô Viết) (dẫn theo [59,16]) Qua một vài định nghĩa về văn hoá như đã nêu ở trên, có thể rút ra một nhận xét về văn hoá như sau: văn hoá với tư cách là một hiện tượng xã hội - bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được một cộng đồng người tích luỹ.
Văn hoá bao gồm những đặc trưng sau: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Trong đó tính lịch sử thể hiện truyền thống văn hoá là những giá trị tương đối ổn định (kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người theo không gian và thời gian và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ. Còn về khái niệm “ngôn ngữ” cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu đồng ý nhất là coi “ ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội ( không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là hiện tượng xã hội đặc biệt) và ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, là công cụ của tư duy”.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ trong sự phát triển, tác động qua lại lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là một bộ phận của nền văn hoá dân tộc, vừa là thành tố cấu tạo nên văn hóa, đồng thời cũng là phương tiện lưu giữ giá trị văn hoá một cách bền chắc và khá đầy đủ. Mặc dù chúng ta không thể có được nội dung trọn vẹn của một nền văn hoá nhờ ngôn ngữ, vì không phải lúc nào ngôn ngữ cũng truyền tải một cách đầy đủ nền văn hoá mà nó đang hành chức nhưng ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ khăng khít, cùng hình thành từ hoạt động giao tiếp, gắn liền với hoạt động nhận thức của con người. Và nếu như ngôn ngữ là hình thức, là công cụ của hoạt động giao tiếp thì văn hoá chính là nội dung của nó.
Ngôn ngữ vừa là phương tiện trao đổi giữa các nền văn hoá, đồng thời là phương tiện liên hệ, kế thừa giữa các thế hệ trong sự phát triển tinh thần của cộng đồng sử dụng nó. Chính vì vậy “ ngôn ngữ là tấm gương thực sự của nền văn hoá dân tộc" - E.Veresaghin, hay nói như A.Agaép “chính ngôn ngữ được một dân tộc sáng tạo ra và của riêng dân tộc này đã thực hiện chức năng đặc trưng dân tộc”. Đồng thời, “chính sự đặc thù của văn hoá được biểu hiện trong ngôn ngữ đã quy định đặc trưng văn hoá dân tộc của hành vi nói năng ở những người thuộc cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ khác nhau”- Nguyễn Đức Tồn [59,23]. Chẳng hạn, nhìn vào tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt, chúng ta nhận thấy một nền văn hoá dân tộc mang đậm màu sắc của những cư dân nông nghiệp như: chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm/ ráng đàng đông vừa trông vừa chạy, ráng đàng nam vừa làm vừa chơi/ đom đóm bay ra trồng cà trồng đỗ/ ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng/ con trâu là đầu cơ nghiệp/ đổ thóc giống ra mà ăn/ chiêm khê mùa thối/ cổ cày vai bừa/ đầu trâu mặt ngựa/ một nắng hai sương/ ăn củ ủ nhiều/ ôm rơm nặng bụng/ ra môn ra khoai/ kéo cày trả nợ/ con sâu làm rầu nồi canh/ mò cua bắt ốc/ rẻ như bèo/ đắt như tôm tươi.
Đó là những lát cắt cuộc sống của cư dân có nền văn hoá được xây dựng từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, một vấn đề mà chúng ta không thể không nhắc tới đó là vấn đề tư duy của những người thuộc cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ đang được xem xét. Bởi vì “nói đến khái niệm văn hoá - dù hiểu rộng hay hiểu hẹp - trong định nghĩa của nó bao giờ cũng có chú trọng đến nét riêng biệt về mặt tinh thần, mặt tâm lí giữa các dân tộc; hay nói cho cụ thể hơn (như nhiều học giả quan niệm) đó là lối nghĩ riêng , cách tư duy riêng của dân tộc đó về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, của tự nhiên, của xã hội và con người của đất nước đó, lãnh thổ đó” ”- Lý Toàn Thắng [53, 2]. Vậy những biểu hiện của lối nghĩ ấy, cách tư duy ấy có thể tìm thấy ở đâu? Có thể thấy rằng không tìm ở đâu dễ dàng, nhanh chóng và thực tế hơn là nghiên cứu và khảo sát ngôn ngữ của nền văn hoá đó.
Vì ngôn ngữ là phương tiện phản ánh tư duy con người. Chẳng hạn, khi so sánh đại từ nhân xưng giữa tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta thấy có sự khác biệt rất lớn. Ví dụ: Tiếng Việt Tiếng Anh Ngôi thứ nhất: + Tôi, tớ, tao, mình, người ta,. +I + Chúng / bọn tôi, chúng / bọn tớ, + We chúng / bọn tao,.
Ngôi thứ hai: + Mày, ấy, cậu, bạn,. + You Chúng/bọn mày, bọn ấy, bọn cậu,. + You Ngôi thứ ba: + Nó, hắn, y, thị, anh ấy, cô ấy. + He, she + Chúng/bọn nó, họ, bọn họ,.
+ They Có thể thấy rằng để biểu thị ngôi thứ nhất, số ít, trong tiếng Anh chỉ sử dụng một đại từ hoàn toàn trung tính về sắc thái biểu cảm – “I”; nhưng trong 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếng Việt, ngoài yếu tố trung tính tương đương- “tôi”, người Việt còn sử dụng một loạt các yếu tố hàm chỉ thái độ, tình cảm tích cực- “tớ, mình” hay tiêu cực – “tao”. Đối với các đại từ thuộc ngôi thứ nhất, số nhiều, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, trường hợp cũng tương tự. Điều này chứng tỏ người Anh thể hiện tính khách quan trong xưng hô còn người Việt biểu hiện tính chủ quan. Bênfu cạnh đó, người Việt thường dùng danh từ thân tộc để xưng hô như anh, chị, em, ông, bà, bác, chú, cô, dì, cháu,.Như vậy có thể nhận thấy từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú.
Qua cách xưng hô có thể nhận thấy tư duy của người Việt rất coi trọng tôn ti trật tự, có trên có dưới. Trong khi đó người Anh lại coi trọng hơn về sự bình đẳng, dân chủ. Sự phản ánh đặc trưng văn hoá dân tộc trong ngôn ngữ Theo Nguyễn Đức Tồn, có thể nhận thấy đặc trưng văn hoá - dân tộc được thể hiện qua những bình diện sau đây: 1. Đặc trưng văn hoá - dân tộc trong ý nghĩa của từ Như trong phần 1.2 đã khẳng định: lối nghĩ, cách tư duy của một dân tộc có thể dễ dàng tìm thấy qua sự nghiên cứu và khảo sát nền văn hoá của chủ thể cộng đồng ngôn ngữ của nền văn hoá đó.
Nhưng phải chăng tất cả các khía cạnh của ngôn ngữ đều thể hiện rõ bản sắc văn hoá của dân tộc. “Hiện nay, dễ dàng chấp nhận hơn cả là nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa để tìm hiểu bản sắc văn hoá của một ngôn ngữ” - Nguyễn Huy Cẩn [3,24]. Và đi sâu thêm nữa thì đó trước hết là ngữ nghĩa của các từ. Vì ý nghĩa của từ là một dạng tri thức về thế giới.
Trong ý nghĩa của từ có lưu giữ lại sự hiểu biết của con người đã thu nhận, tích luỹ được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan. Các tri thức đó phản ánh trình độ hiểu biết mà ý thức xã hội đã đạt được ở giai đoạn hiện tại.