CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ SO SÁNH LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về so sánh luật So sánh luật là một trong những phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học pháp lý. Phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài hướng đến nhà nước và quy phạm pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác với hệ thống pháp luật mà người ngiên cứu được học tập, đào tạo hoặc giữa các mô hình nhà nước khác nhau, nhằm mục đích phân tích, đối chiếu các hệ thống pháp luật để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật đó hướng đến mục tiêu giải thích nguồn gốc, đánh giá giải pháp của các đối tượng so sánh, phục vụ cho mục đích lý giải và hoàn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia được so sánh. Nghiên cứu so sánh pháp luật được hiểu là hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống về những quy định pháp luật và truyền thống pháp lý cụ thể trên nền tảng so sánh hoặc làm sáng tỏ thông tin liên quan giữa hai hay nhiều hệ thống pháp luật, lý giải sự khác biệt và tăng tính hiểu biết của người nghiên cứu về các mô hình pháp luật thuộc đối tượng nghiên cứu1.
Nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài là nguồn thông tin cho hoạt động so sánh luật, ngược lại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, luật so sánh chính là động lực, ý nghĩa của phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài; nhờ có các hoạt động đối chiếu, phân tích đánh giá, các thông tin có được từ nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài trở nên có giá trị hơn2. Một luận văn nghiên cứu so sánh luật nước ngoài đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó so sánh chính là hoạt động chủ đạo. Việc tìm hiểu về các giá trị, lợi ích khi nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài, lựa chọn đối tượng pháp luật phù hợp để nghiên cứu so sánh và giới hạn phạm vi nghiên cứu là rất cần thiết nhằm giúp cho tác giả có các hướng đi đúng đắn trong việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn. Lợi ích của việc so sánh luật Hoạt động chính của so sánh luật nước ngoài là nghiên cứu về sự khác biệt và tương đồng giữa luật pháp của các quốc gia khác nhau.
Cụ thể hơn, nó liên quan đến việc nghiên cứu các hệ thống pháp luật khác nhau đang tồn tại trên thế giới, bao gồm tất cả hệ thống luật chung, thông luật, dân luật và luật tôn giáo. Nó bao gồm việc mô tả và phân tích các hệ thống pháp lý nước ngoài, ngay cả khi không có việc so sánh rõ 1 Đỗ Minh Khôi, Dương Hồng Thị Phi Phi, Phạm Thị Phương Thảo (2016), Phương pháp, quy trình và kỹ thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý, NXB Đại học quốc gia TP. 2 Trần Thị Ngọc Hà, Đỗ Thị Mai Hạnh, Nguyễn Thị Hằng, Phan Hoài Nam, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Ngô Kim Hoàng Nguyên (2017), Luật so sánh, tài liệu hướng dẫn học tập, NXB Lao động, tr. 9 ràng được thực hiện3.
Trong thời đại chủ nghĩa quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế và dân chủ hóa hiện nay tầm quan trọng của luật so sánh đã tăng lên rất nhiều, không chỉ vì mục đích củng cố mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới mà còn bởi những lợi ích mà nó đem lại. Một số lợi ích của việc nghiên cứu và so sánh luật nước ngoài: Thứ nhất, mang lại giá trị tri thức nói chung, tạo cơ sở giúp hiểu biết sâu hơn về nội luật. Có thể nói bất kỳ ngành khoa học nào trên thế giới cũng lấy tri thức là điểm đến trên con đường nghiên cứu của mình. Tương tự như vậy, nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài trước hết nhằm cung cấp tri thức khoa học.
Tri thức về các lĩnh vực khoa học sẽ phát triển hơn rất nhiều thông qua quá trình so sánh. Trước hết nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho chúng ta cái nhìn toàn diện về hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới thông qua việc tìm hiểu, phân tích các mô hình pháp luật. Tiếp theo đó, bằng lý thuyết về phân nhóm hệ thống pháp luật thành các mô hình khác nhau và nghiên cứu các mô hình pháp luật cơ bản, nghiên cứu so sánh sẽ giúp cho người nghiên cứu có một bức tranh toàn cảnh về các hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như có những nhận định chung về hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia mà mình đang so sánh. Từ đó, xác định được những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó nghiên cứu so sánh luật nước ngoài không chỉ giúp nhà nghiên cứu bổ sung tri thức về các hình thái, hệ thống pháp luật mới mà còn nâng cao sự hiểu biết của những tri thức có sẵn ở các mức độ khác nhau. Đồng thời giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận hệ thống pháp luật của nước mình theo cách thức khác với những gì đã quá quen thuộc với họ. Ngoài những tri thức và hiểu biết về pháp luật, luật so sánh còn cung cấp những tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác. Trong quá trình tiến hành so sánh pháp luật, để hiểu được một cách đúng đắn các quy định của pháp luật nước ngoài cũng như phục vụ cho mục đích học tập, tìm ra các giải pháp pháp lý cho hệ thống luật của mình, người nghiên cứ buộc phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đối với pháp luật như: chính trị, xã hội, lịch sử, điều kiện kinh tế, vị trí địa lý; ngôn ngữ… Hơn nữa quá trình so sánh luật còn đòi hỏi người ngiên cứu phải đưa ra các kết luận về điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tương đồng và khác biệt đó chính là do sự khác biệt hoặc tương đồng về kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, lịch sử, địa lí… Chính vì vậy kiến thức có được từ những lĩnh vực khoa học khác vừa có ý nghĩa là nền tảng cho việc so sánh các hệ thống pháp luật nước ngoài đồng thời 3 Ratno Lukito, Comparative law, https://www.edu/31622720/Comparative_Law, truy cập ngày 19/08/2019.
10 cũng là những giá trị mà thông qua quá trình phân tích, nghiên cứu, đối chiếu pháp luật, các nhà nghiên cứu so sánh, bổ sung và hoàn thiện được. Thứ hai, hội nhập và thống nhất pháp luật. Hài hòa hóa pháp luật và nhất thể hóa pháp luật là hai phương diện của quá trình liên kết pháp luật giữa các quốc gia khác nhau nhằm loại bỏ sự khác biệt giữa các lĩnh vực pháp luật cụ thể trong quá trình quốc tế hoá pháp luật4. Trong đó, hài hoà hoá pháp luật là quá trình nhằm làm giảm đi những khác biệt trong các lĩnh vực pháp luật cụ thể giữa các hệ thống pháp luật bằng cách xây dựng các luật mẫu và thực hiện các biện pháp để khuyến khích các quốc gia tiếp nhận và áp dụng.
Nhất thể hoá pháp luật là quá trình theo đó các quy phạm pháp luật mâu thuẫn của các hệ thống pháp luật khác nhau được thay thế bởi các quy phạm pháp luật chung nhất. Nói cách khác là hội nhập và thống nhất pháp luật. Có thể nói hội nhập và thống nhất pháp luật là quá trình hết sức khó khăn và phức tạp, ngoài rào cản về địa lý, văn hoá, lịch sử, kinh tế chính trị, tâm lý liên quan đến tự tôn dân tộc cũng gây ra các trở ngại không nhỏ cho các nhà nghiên cứu, bởi việc chấp nhận các quy tắc hài hoà hoá và nhất thể hoá đồng nghĩa với việc các quốc gia sẽ phải từ bỏ các quy phạm pháp luật trong hệ thống của mình. Những rào cản này khi xuất hiện, chính là lúc vai trò của nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài được phát huy.
Trước hết phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài hỗ trợ các nhà nghiên cứu tiếp cận hệ thống quy phạm pháp luật nước ngoài thông qua việc thu thập các thông tin, tri thức pháp luật khác với hệ thống pháp luật mà họ được tiếp thu, học tập, giúp họ bước đầu nhận diện các khó khăn về kỹ thuật pháp lý. Tiếp theo, bằng cách xác định các điểm chung và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, vận dụng các kiến thức có được từ hoạt động nghiên cứu pháp luật trước đó lý giải nguyên căn của sự khác biệt, tìm ra các phương pháp giải quyết, đề xuất pháp lý nhằm loại bỏ chúng, từ đó tạo nền tảng cho việc xây dựng hệ thống luật mẫu hoặc các quy phạm chung được áp dụng. Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài còn cung cấp các tri thức pháp lý, kỹ năng, giúp các luật gia hiểu sâu sắc hơn về cả quá trình hình thành và góc nhìn, tư duy luật của các quốc gia, giúp cho việc đàm phán được thuận lợi, cũng như dễ dàng tìm tiếng nói chung trong việc xây dựng hệ thống pháp luật chung. Mặt khác, yêu cầu khách quan của hoạt động nghiên cứu, so sánh đòi hỏi các luật gia phải cân nhắc cẩn thận trong việc xây dựng hệ thống quy phạm chung, sao cho kết quả hệ thống lý thuyết về các lĩnh vực pháp luật có thể áp dụng được ở bất kỳ quốc gia nào và dung hoà được lợi ích các bên tham gia đàm phán, từ đó tránh được các quan điểm tiêu 4 Bùi Xuân Nhự (2007), “Vấn đề nhất thể hoá pháp luật và hài hoà hoá pháp luật trong tư pháp quốc tế”, Tạp chí luật học, số 02, tr.
11 cực về mối lo ngại tự tôn dân tộc hay tâm lý khó chấp nhận các rủi ro của việc hội nhập. Mục đích của nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc khám phá, tiếp thu các tri thức pháp lý mới mà còn phục vụ cho mục đích xây dựng nhận thức của các quốc gia trên thế giới về nền tảng của các quy phạm pháp luật được áp dụng phù hợp với các quốc gia khác nhau ngay cả khi các quốc gia đó không cùng chung nền kinh tế, chính trị, lịch sử và xã hội. Cuối cùng đi đến sự đồng thuận các quy tắc được áp dụng nhằm hội nhập và thống nhất pháp luật. Thứ ba, hoàn thiện pháp luật.
Mục đích của nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài luôn nhằm hướng đến việc tiếp cận sâu sắc và có quy mô các hiện tượng pháp luật, các quy phạm, hệ thống chế định của các quốc gia trên thế giới.