Luận văn thạc sĩ xác định một số đặc điểm sinh thái loài chà vá chân đen pygathrix nigripes và đề xuất giải pháp bảo tồn tại vườn quốc gia bù gia mập tỉnh bình phước

Tìm hiểu đặc điểm sinh thái chà vá chân đen Pygathrix nigripes và giải pháp bảo tồn tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Bình Phước. Nghiên cứu quan trọng về đa dạng sinh học.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2

Chuyên ngành

Sinh thái & Bảo tồn

Tác giả

Hoàng Anh Tuân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2016

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỤC LỤC

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.3. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu Linh trưởng ở Việt Nam

1.3.1. Giai đoạn trước năm 1954

1.3.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

1.3.3. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay

1.4. Một số vấn đề về phân loại học Linh trưởng ở Việt Nam

1.5. Một số đặc điểm giống chà vá (Pygathrix)

1.5.1. Phân loại học Giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam:

1.5.2. Đặc điểm hình thái Chà vá (Pygathrix):

1.5.3. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của nhóm Chà vá (Pygathrix):

1.5.4. Phân bố giống Chà vá:

1.6. Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne – Edwards, 1871)

1.6.1. Tên gọi - Tên khoa học:

1.6.2. Đặc diểm về hình thái ngoài:

1.6.3. Đặc điểm phân bố của loài Chà vá chân đen:

1.6.4. Đặc điểm sinh học, sinh thái của Chà vá chân đen:

1.6.5. Tình hình nghiên cứu phân loại học Chà vá chân đen

1.6.6. Các mối đe dọa đến loài Chà vá chân đen:

1.6.7. Tình trạng bảo tồn:

2. Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp chọn khu vực nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:

2.4.3. Phương pháp xử lý nội nghiệp:

3. Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, địa mạo

3.1.3. Khí hậu, thủy văn

3.1.4. Tài nguyên sinh vật

3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

4. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Một số đặc điểm sinh thái loài Chà vá chân đen tại VQG Bù Gia Mập

4.1.1. Về hiện trạng phân bố, số lượng quần thể của loài

4.1.2. Đặc điểm về nơi sống, kích thước vùng sống và sử dụng vùng sống

4.1.3. Đặc điểm về kích thước, cấu trúc và tổ chức đàn Chà vá chân đen

4.1.4. Đặc điểm về tập tính của Chà vá chân đen

4.2. Các mối đe dọa tới loài tại VQG Bù Gia Mập

4.2.1. Các mối đe dọa trực tiếp tới loài

4.2.2. Các mối đe dọa gián tiếp tới loài

4.3. Thực trạng và giải pháp bảo tồn loài tại VQG Bù Gia Mập

4.3.1. Thực trạng về công tác bảo tồn loài tại VQG Bù Gia Mập

4.3.2. Giải pháp bảo tồn loài tại VQG Bù Gia Mập

5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Về một số đặc điểm sinh thái của loài

5.2. Các mối đe dọa tới loài Chà vá chân đen

5.3. Thực trạng và giải pháp về công tác bảo tồn loài Chà vá chân đen

PHẦN PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Sinh thái Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Loài linh trưởng quý hiếm tại Bù Gia Mập

Việt Nam, quốc gia có sự đa dạng sinh học phong phú, tự hào là một trong những trung tâm của khu hệ thú linh trưởng Châu Á. Trong số các loài linh trưởng quý hiếm, Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) nổi bật với vẻ đẹp và giá trị sinh thái đặc biệt. Loài này không chỉ là một biểu tượng của rừng xanh mà còn là chỉ dấu quan trọng về sức khỏe của hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập. Các nghiên cứu đã khẳng định vị thế của Pygathrix nigripes như một loài đặc hữu của Việt Nam và Campuchia, thể hiện giá trị độc đáo trong Đa dạng sinh học Việt Nam [Nadler và cs, 2003].

Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, là một trong những khu khu bảo tồn thiên nhiên rộng lớn và nguyên vẹn nhất của tỉnh Bình Phước. Đây được xem là nơi trú ẩn quan trọng cho nhiều loài động vật nguy cấp, trong đó có Chà vá chân đen. Vị trí địa lý chiến lược của Vườn, là khu vực chuyển tiếp từ Tây Nguyên xuống Đồng bằng Đông Nam Bộ, tạo nên một môi trường sống đa dạng và phức tạp, hỗ trợ sự sinh tồn của Pygathrix nigripes. Tuy nhiên, mặc dù tầm quan trọng của loài đã được ghi nhận sớm từ năm 1871, thông tin chi tiết về sinh thái chà vá và các yếu tố ảnh hưởng đến quần thể của chúng tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập vẫn còn hạn chế. Điều này tạo ra một khoảng trống trong việc xây dựng các dự án bảo tồn linh trưởng hiệu quả, đặc biệt cho Sinh thái & Bảo tồn Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Bù Gia Mập.

Đề tài nghiên cứu về Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Bù Gia Mập trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Mục tiêu là cung cấp thông tin khoa học chuyên sâu về hiện trạng phân bố, số lượng quần thể, sinh cảnh sống, vùng sống, một số tập tính chà vá và các mối đe dọa chính đối với loài. Những dữ liệu này là nền tảng vững chắc để đề xuất các giải pháp bảo tồn chà vá hiệu quả, không chỉ tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập mà còn góp phần vào nỗ lực bảo vệ động vật hoang dã trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Việc hiểu rõ hơn về môi trường sống chà vá và các yếu tố sinh học của chúng sẽ giúp định hình các chiến lược quản lý rừng bền vững và nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của loài linh trưởng quý hiếm này. Các hoạt động giám sát quần thể chà vá cũng là trọng tâm để đánh giá hiệu quả các biện pháp đã và đang triển khai, đảm bảo tương lai cho Chà vá chân đen.

1.1. Phân loại và Đặc điểm hình thái Pygathrix nigripes Bí quyết nhận dạng

Giống Pygathrix tại Việt Nam bao gồm ba loài chính: Chà vá chân đỏ, Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes), và Chà vá chân xám [Hoàng Anh Tuân, 2016]. Chúng thuộc phân họ Voọc Colobinae, họ Khỉ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng Primates. Chà vá chân đen Pygathrix nigripes được Milne-Edwards mô tả lần đầu vào năm 1871. Đặc điểm hình thái của Chà vá chân đen giúp phân biệt rõ ràng với các loài khác trong giống. Loài này có khuôn mặt màu xanh nhạt với một vòng màu vàng lớn xung quanh mắt. Chi sau màu đen, trong khi cánh tay và cơ thể có màu xám, bàn tay lại màu đen. Râu ngắn và mỏng, bụng và đuôi màu trắng, đuôi thường dài hơn thân. Con đực trưởng thành có bìu màu xanh và dương vật màu đỏ tươi, một đặc điểm nổi bật. Khối lượng trung bình của con đực trưởng thành khoảng 11 kg, con cái khoảng 8 kg. Mũi phẳng, trước tai có vùng tam giác màu đen. Con non có màu nhạt hơn, mặt đen với hai sọc sáng dưới mắt [Hoàng Minh Đức, 2007]. Sự hiểu biết sâu sắc về những đặc điểm này là chìa khóa để giám sát quần thể chà vá và phân biệt loài trong tự nhiên.

1.2. Vườn Quốc gia Bù Gia Mập Nơi trú ẩn quan trọng của Linh trưởng Việt Nam

Vườn Quốc gia Bù Gia Mập là một phần không thể thiếu trong chiến lược bảo tồn chà vá nói riêng và đa dạng sinh học Việt Nam nói chung. Với tổng diện tích vùng lõi lên đến 25.926 ha, Vườn là khu bảo tồn thiên nhiên duy nhất còn lại liền vùng, liền khoảnh của tỉnh Bình Phước. Khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập đa dạng, bao gồm rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới và rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới, tạo nên môi trường sống chà vá lý tưởng. Theo nghiên cứu của Vương Đức Hòa (2012), Vườn ghi nhận 1.117 loài thực vật và 437 loài động vật, trong đó có 105 loài thú [Vương Đức Hòa, 2012]. Đặc biệt, đây là nơi cư trú của nhiều loài linh trưởng quý hiếm như Vượn đen má vàng, Khỉ mặt đỏ, và quan trọng nhất là Chà vá chân đen Pygathrix nigripes. Sự phong phú về tài nguyên sinh vật khẳng định vai trò của Vườn Quốc gia Bù Gia Mập là một pháo đài tự nhiên, giữ gìn nguồn gen quý giá cho Việt Nam và thế giới, đồng thời là trọng tâm của các dự án bảo tồn linh trưởng.

II. Thách thức Bảo tồn Chà vá chân đen Nguy cơ tuyệt chủng và Phá rừng Bù Gia Mập

Tình trạng bảo tồn Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Bù Gia Mập đang đối mặt với nhiều mối đe dọa nghiêm trọng, đẩy loài này vào danh sách động vật nguy cấp. Theo danh lục Sách Đỏ IUCN chà vá (2015) và Sách Đỏ Việt Nam (2007), Chà vá chân đen được xếp vào bậc Nguy cấp – EN (Endangered), và theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, chúng thuộc nhóm IB, nghiêm cấm khai thác và sử dụng [IUCN Red List, 2015; Sách Đỏ Việt Nam, 2007; Nghị định 32/2006/NĐ-CP]. Điều này phản ánh nguy cơ tuyệt chủng chà vá cao, đòi hỏi những nỗ lực bảo tồn chà vá cấp bách và quyết liệt hơn. Các mối đe dọa này không chỉ xuất phát từ hoạt động trực tiếp của con người mà còn từ những tác động gián tiếp lên hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập.

Một trong những mối đe dọa lớn nhất chính là nạn phá rừng Bù Gia Mập và sự chia cắt sinh cảnh sống. Tỷ lệ suy giảm rừng ước tính khoảng 10.000 ha mỗi năm trên cả nước do khai thác gỗ và chuyển đổi đất rừng cho mục đích nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp. Điều này trực tiếp làm mất đi môi trường sống chà vá thiết yếu, gây chia cắt các quần thể, hạn chế khả năng di chuyển và sinh sản của Pygathrix nigripes. Khi môi trường sống bị thu hẹp, các loài động vật nguy cấp khác cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Sự xâm lấn của con người vào các khu rừng nguyên sinh còn làm tăng khả năng tiếp cận của thợ săn và những kẻ buôn bán trái phép động vật hoang dã.

Nạn săn bắt chà vá trái phép và buôn bán bất hợp pháp là mối hiểm họa thứ hai, trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Chà vá chân đen. Loài linh trưởng quý hiếm này bị săn bắt với nhiều mục đích khác nhau: làm thực phẩm, nguyên liệu thuốc gia truyền, nấu cao, hay thậm chí là thú nhồi bông và vật nuôi. Nhu cầu thị trường ngày càng tăng đã thúc đẩy các hoạt động săn bắt, đẩy nhiều loài động vật đặc hữu vào bờ vực nguy cơ tuyệt chủng chà vá. Tình trạng này không chỉ diễn ra tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập mà còn ở nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác trên cả nước, gây áp lực lớn lên công tác bảo vệ động vật hoang dã. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng địa phương và các tổ chức bảo tồn chà vá quốc tế, nhằm tăng cường giám sát quần thể chà vá và áp dụng các biện pháp răn đe mạnh mẽ hơn.

2.1. Mối đe dọa chính từ Săn bắt trái phép và Mất môi trường sống Chà vá

Các hoạt động săn bắt chà vá trái phép và sự suy giảm môi trường sống chà vá là hai yếu tố hàng đầu đe dọa Chà vá chân đen Pygathrix nigripes. Nạn phá rừng Bù Gia Mập do khai thác gỗ và mở rộng đất canh tác làm mất đi sinh cảnh sống quan trọng, chia cắt các quần thể Pygathrix nigripes thành những nhóm nhỏ, cô lập. Khi sinh cảnh bị chia cắt, khả năng tiếp cận nguồn thức ăn chà vá chân đen và các địa điểm sinh sản bị hạn chế, làm giảm sức sống của quần thể. Hoạt động săn bắt không chỉ nhắm vào mục đích thương mại mà còn do tập quán địa phương. Điều này đẩy Chà vá chân đen vào tình trạng dễ bị tổn thương, gia tăng nguy cơ tuyệt chủng chà vá. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, áp lực từ con người làm cho loài linh trưởng quý hiếm này ngày càng khó khăn trong việc tìm kiếm nơi trú ẩn an toàn và nguồn sống ổn định [Hoàng Anh Tuân, 2016]. Bảo vệ động vật hoang dã trong bối cảnh này đòi hỏi các biện pháp toàn diện và kiên quyết.

2.2. Tình trạng xếp hạng nguy cấp của Pygathrix nigripes theo Sách Đỏ IUCN

Tình trạng nguy cơ tuyệt chủng chà vá của Chà vá chân đen Pygathrix nigripes được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Sách Đỏ Việt Nam xếp vào bậc Nguy cấp (EN - Endangered) [IUCN Red List, 2015; Sách Đỏ Việt Nam, 2007]. Điều này khẳng định sự cần thiết của các dự án bảo tồn linh trưởng khẩn cấp. Mức độ nguy cấp này dựa trên các tiêu chí như suy giảm quần thể nhanh chóng, diện tích phân bố hạn chế và các mối đe dọa liên tục từ con người. Dù Chà vá chân đen được mô tả sớm nhưng thông tin về sinh thái chà vá và quần thể của chúng vẫn còn chưa đầy đủ, đặc biệt tại các khu vực như Vườn Quốc gia Bù Gia Mập. Việc thiếu dữ liệu gây khó khăn cho công tác giám sát quần thể chà vá hiệu quả và xây dựng chiến lược bảo tồn chà vá phù hợp. Tình trạng này nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu chà vá trong việc cung cấp thông tin khoa học kịp thời, làm cơ sở cho các quyết định chính sách và hành động bảo vệ động vật hoang dã.

III. Phương pháp Bảo vệ Chà vá chân đen Quản lý rừng bền vững và Giám sát quần thể

Đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng chà vá, việc áp dụng các phương pháp bảo vệ Chà vá chân đen Pygathrix nigripes hiệu quả là vô cùng cần thiết. Chiến lược quản lý rừng bền vững tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đóng vai trò trung tâm, nhằm bảo vệ hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập - môi trường sống chà vá chủ yếu của loài. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc ngăn chặn nạn phá rừng Bù Gia Mập mà còn phải đảm bảo sự phục hồi và phát triển của rừng tự nhiên, từ đó cung cấp đủ nguồn thức ăn chà vá chân đen và nơi trú ẩn an toàn cho linh trưởng quý hiếm này. Các dự án bảo tồn linh trưởng hiện nay đã và đang được triển khai với sự phối hợp của nhiều bên liên quan, bao gồm các cơ quan quản lý Vườn, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và các tổ chức quốc tế.

Một trong những trụ cột của công tác bảo tồn chà vá là tăng cường năng lực cho cán bộ kiểm lâm và đội ngũ bảo vệ rừng. Họ là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ động vật hoang dã và ngăn chặn nạn săn bắt chà vá trái phép. Việc trang bị kiến thức, kỹ năng và công cụ hiện đại cho lực lượng này là yếu tố then chốt. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ như hệ thống thông tin địa lý (GIS) và định vị toàn cầu (GPS) trong giám sát quần thể chà vá giúp theo dõi đặc điểm phân bố Pygathrix nigripes và đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo tồn [Hoàng Anh Tuân, 2016].

Không chỉ dừng lại ở các biện pháp cứng rắn, việc nâng cao nhận thức cộng đồng cũng là một phần không thể thiếu trong chiến lược bảo tồn Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Bù Gia Mập. Các chương trình giáo dục môi trường, tập huấn cho người dân địa phương về giá trị của đa dạng sinh học Việt Nam và tầm quan trọng của Chà vá chân đen giúp thay đổi thái độ và hành vi. Sự tham gia tích cực của cộng đồng trong các hoạt động như nhận khoán bảo vệ rừng hay du lịch sinh thái Bù Gia Mập có trách nhiệm sẽ tạo ra nguồn sinh kế bền vững, giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng và săn bắt động vật. Từ đó, xây dựng một mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, đảm bảo tương lai cho loài động vật nguy cấp này.

3.1. Dự án Bảo tồn Linh trưởng Chiến lược giám sát và đánh giá quần thể Chà vá

Các dự án bảo tồn linh trưởng tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đang triển khai các chiến lược chuyên sâu để giám sát quần thể chà vá và đánh giá tình trạng của Chà vá chân đen Pygathrix nigripes. Phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp quan sát bằng mắt thường, ống nhòm, quay phim, chụp ảnh và sử dụng máy định vị GPS để xác định tọa độ vị trí các đàn Chà vá chân đen. Kỹ thuật scan-sampling của Altmann (1974) được áp dụng để theo dõi tập tính chà vá như ăn, nghỉ, di chuyển, và các hoạt động xã hội [Altmann, 1974]. Mục tiêu là thu thập dữ liệu chi tiết về số lượng cá thể trong đàn, tỷ lệ đực/cái, nhóm tuổi, và thức ăn chà vá chân đen. Những dữ liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về sinh thái chà vá và giúp xác định môi trường sống chà vá ưa thích. Đồng thời, thông qua việc phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ kiểm lâm và thợ săn, các mối đe dọa đến loài cũng được xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng. Đây là những thông tin cốt lõi để xây dựng kế hoạch bảo tồn chà vá hiệu quả và định hướng các hành động bảo vệ động vật hoang dã kịp thời.

3.2. Vai trò của Du lịch sinh thái Bù Gia Mập trong công tác Bảo tồn chà vá

Du lịch sinh thái Bù Gia Mập mang lại tiềm năng lớn cho công tác bảo tồn chà vá, đặc biệt là loài Chà vá chân đen Pygathrix nigripes. Hoạt động này không chỉ tạo nguồn thu nhập bổ sung cho Vườn Quốc gia Bù Gia Mập mà còn là kênh quan trọng để nâng cao nhận thức cộng đồng. Khi du khách được trải nghiệm và tìm hiểu về hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập và các loài linh trưởng quý hiếm tại đây, họ sẽ hiểu hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ động vật hoang dã. Các tour du lịch sinh thái có trách nhiệm, được thiết kế để không gây ảnh hưởng đến môi trường sống chà vátập tính chà vá, có thể biến du khách thành những người ủng hộ nhiệt thành cho công tác bảo tồn. Nguồn kinh phí từ du lịch sinh thái có thể được tái đầu tư vào các dự án bảo tồn linh trưởng, bao gồm cả giám sát quần thể chà vá và các chương trình giáo dục môi trường cho người dân địa phương. Điều này tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực, nơi kinh tế và bảo tồn chà vá cùng phát triển bền vững.

IV. Ứng dụng Nghiên cứu Sinh thái Chà vá chân đen Hiểu rõ tập tính và Thức ăn

Các nghiên cứu chà vá về sinh thái chà vá của Chà vá chân đen Pygathrix nigripes tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đã cung cấp những thông tin quan trọng, làm cơ sở cho các chiến lược bảo tồn chà vá hiệu quả. Mặc dù các nghiên cứu trước đây về loài này còn hạn chế, đặc biệt tại khu vực Bù Gia Mập, những phân tích ban đầu đã hé lộ nhiều điều về tập tính chà vámôi trường sống chà vá của chúng. Hiểu biết sâu sắc về các yếu tố này là then chốt để đảm bảo sự tồn vong của loài linh trưởng quý hiếm này, đặc biệt khi chúng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng chà vá cao.

Một trong những phát hiện nổi bật là về đặc điểm phân bố và số lượng quần thể. Chà vá chân đen thường sinh sống ở các khu rừng nhiệt đới, bao gồm rừng thường xanh, rừng bán thường xanh, rừng hỗn giao, và rừng khô hạn ven biển. Tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, chúng được ghi nhận chủ yếu ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nơi có những cánh rừng nguyên sinh còn tương đối nguyên vẹn. Kích thước bầy đàn của Pygathrix nigripes thay đổi tùy theo khu vực và môi trường sống chà vá, từ vài cá thể đến hàng chục cá thể. Các nghiên cứu cũng ghi nhận Chà vá chân đen có khả năng di chuyển trên mặt đất ở những nơi tán rừng không liên tục, mặc dù chúng chủ yếu sống trên cây [Hoàng Minh Đức và cộng sự, 2007]. Điều này cho thấy sự thích nghi nhất định của loài với môi trường, nhưng cũng là điểm yếu khi hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập bị chia cắt.

Phân tích thức ăn chà vá chân đen cho thấy chế độ ăn của loài này rất phong phú, bao gồm lá, hoa, quả và hạt của nhiều loài thực vật. Cụ thể, lá chiếm phần lớn trong khẩu phần ăn, đặc biệt là lá non, theo sau là quả và hoa [Hoàng Minh Đức, 2007]. Khoảng 152 loài thực vật thuộc 37 họ được xác định là nguồn thức ăn, trong đó giống Ficus đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Việc đảm bảo nguồn thức ăn chà vá chân đen dồi dào và đa dạng là yếu tố sống còn cho quần thể Chà vá chân đen. Các thông tin về tập tính chà vá xã hội, như cấu trúc đàn gồm nhiều con cái và con đực, cũng giúp hiểu rõ hơn về cách chúng tương tác và duy trì quần thể. Những hiểu biết này là tài liệu quý giá để định hình các chiến lược bảo tồn Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Bù Gia Mập một cách khoa học và bền vững.

4.1. Đặc điểm phân bố quần thể Pygathrix nigripes và Môi trường sống Chà vá

Chà vá chân đen Pygathrix nigripes tại Việt Nam phân bố từ Gia Lai đến Lâm Đồng và Bình Phước. Tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, quần thể Pygathrix nigripes được ghi nhận sống chủ yếu trong các kiểu rừng nhiệt đới, đặc biệt là rừng thường xanh và bán thường xanh, là môi trường sống chà vá lý tưởng. Mặc dù là loài linh trưởng sống trên cây, một số báo cáo chỉ ra khả năng chúng di chuyển trên mặt đất ở những khu vực tán rừng bị gián đoạn [Lippold, 1998]. Loài này có thể sinh sống ở độ cao đa dạng, từ 50m đến 1.800m so với mực nước biển, thể hiện khả năng thích nghi của chúng. Tuy nhiên, sự phân bố không đồng đều và số lượng quần thể Pygathrix nigripes còn hạn chế ở nhiều nơi, nhấn mạnh tầm quan trọng của các khu khu bảo tồn thiên nhiên như Bù Gia Mập. Việc giám sát quần thể chà vá và lập bản đồ đặc điểm phân bố Pygathrix nigripes chính xác là cần thiết để định vị và bảo vệ các sinh cảnh trọng yếu, đối phó với nguy cơ tuyệt chủng chà vá.

4.2. Tập tính kiếm ăn và sinh hoạt xã hội của Chà vá chân đen

Chà vá chân đen Pygathrix nigripestập tính kiếm ăn chủ yếu là ăn lá, hoa, quả và hạt của nhiều loài thực vật, với lá non chiếm tỷ lệ cao nhất trong khẩu phần [Hoàng Minh Đức, 2007]. Nguồn thức ăn chà vá chân đen đa dạng, bao gồm 152 loài thực vật, cho thấy vai trò quan trọng của sự đa dạng cây cối trong môi trường sống chà vá. Về sinh hoạt xã hội, Pygathrix nigripes thường sống thành đàn, với cấu trúc đàn gồm nhiều con đực và con cái, tỷ lệ đực/cái thay đổi theo kích thước đàn. Đàn lớn có thể phân tách thành các đàn nhỏ hơn, linh hoạt trong tương tác xã hội. Loài này dành phần lớn thời gian hoạt động trên cây, di chuyển bằng bốn bàn chân, sử dụng cây gỗ lớn có tán dày làm nơi ngủ và trú ẩn [Lippold, 1998]. Sự hiểu biết về tập tính chà vá này là căn cứ để thiết kế các dự án bảo tồn linh trưởng phù hợp, đảm bảo đủ không gian và nguồn tài nguyên cho Chà vá chân đen sinh trưởng và phát triển, góp phần vào bảo tồn chà vá lâu dài.

V. Tương lai Bảo tồn Chà vá chân đen Pygathrix nigripes Cam kết Đa dạng sinh học

Tương lai của Chà vá chân đen Pygathrix nigripes tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập phụ thuộc lớn vào sự cam kết và nỗ lực bền bỉ trong công tác bảo tồn chà vá. Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng các nhà khoa học hay cán bộ Vườn mà còn là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, nhằm bảo vệ một phần quý giá của đa dạng sinh học Việt Nam. Các giải pháp quản lý rừng bền vững cần được tăng cường, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt và sự tham gia của cộng đồng địa phương. Việc ngăn chặn nạn phá rừng Bù Gia Mậpsăn bắt chà vá trái phép vẫn là ưu tiên hàng đầu, đồng thời cần có các chính sách hỗ trợ sinh kế cho người dân sống vùng đệm, giảm áp lực lên tài nguyên rừng.

Việc tiếp tục nghiên cứu chà vá về sinh thái chà vá của Chà vá chân đen là nền tảng để đưa ra các quyết định sáng suốt. Các nghiên cứu sâu hơn về tập tính chà vá, thức ăn chà vá chân đen, và môi trường sống chà vá sẽ giúp cập nhật thông tin và điều chỉnh các chiến lược giám sát quần thể chà vá cho phù hợp. Sự biến đổi khí hậu cũng là một yếu tố mới cần được xem xét trong các kế hoạch bảo tồn, vì nó có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập và khả năng thích nghi của Pygathrix nigripes.

Vườn Quốc gia Bù Gia Mập cần được đầu tư thêm về nguồn lực, cả về tài chính lẫn nhân sự, để thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn linh trưởng. Hợp tác quốc tế với các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã như IUCN, WCS (Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã) cũng là yếu tố quan trọng để học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ công nghệ và thu hút nguồn lực. Du lịch sinh thái Bù Gia Mập có trách nhiệm cần được phát triển một cách bền vững, đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế mà không gây tác động tiêu cực đến Chà vá chân đenhệ sinh thái rừng Bù Gia Mập. Tương lai của linh trưởng quý hiếm này nằm trong tay chúng ta, đòi hỏi sự phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực và một cam kết mạnh mẽ để bảo vệ những loài động vật nguy cấp này khỏi nguy cơ tuyệt chủng chà vá.

5.1. Tầm nhìn chiến lược cho Khu bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập

Để đảm bảo tương lai cho Chà vá chân đen Pygathrix nigripes, tầm nhìn chiến lược cho Vườn Quốc gia Bù Gia Mập phải bao gồm một kế hoạch quản lý rừng bền vững và toàn diện. Điều này không chỉ tập trung vào việc bảo vệ nguyên vẹn các sinh cảnh rừng mà còn chú trọng đến việc phục hồi các khu vực suy thoái, mở rộng môi trường sống chà vá. Các dự án bảo tồn linh trưởng cần được tích hợp với chương trình phát triển kinh tế-xã hội của các cộng đồng dân cư vùng đệm, tạo ra các sinh kế thay thế bền vững để giảm áp lực khai thác tài nguyên. Việc thành lập các hành lang sinh thái kết nối các khu vực rừng bị chia cắt cũng là một giải pháp quan trọng để tăng cường khả năng di chuyển và đa dạng gen cho quần thể Pygathrix nigripes. Đồng thời, các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu chà vá cần được đưa vào kế hoạch dài hạn, nhằm bảo vệ hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập trước những thách thức mới. Tầm nhìn này hướng đến một khu bảo tồn thiên nhiên kiểu mẫu, nơi Chà vá chân đen và các loài linh trưởng quý hiếm khác có thể phát triển mạnh mẽ.

5.2. Kêu gọi hành động Bảo vệ động vật hoang dã và Quản lý rừng bền vững

Tình trạng động vật nguy cấp của Chà vá chân đen Pygathrix nigripes đòi hỏi một lời kêu gọi hành động mạnh mẽ từ mọi tầng lớp xã hội. Chính phủ cần tăng cường thực thi pháp luật chống săn bắt chà vá trái phép và buôn bán động vật hoang dã. Các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng địa phương cần được trao quyền và hỗ trợ để tham gia tích cực hơn vào các hoạt động bảo vệ động vật hoang dãquản lý rừng bền vững. Giáo dục môi trường, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, sẽ giúp xây dựng ý thức và trách nhiệm đối với đa dạng sinh học Việt Nam. Các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động gần các khu bảo tồn thiên nhiên như Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, cần thực hiện trách nhiệm xã hội, hỗ trợ các dự án bảo tồn linh trưởng và tránh các hoạt động gây tổn hại đến hệ sinh thái rừng Bù Gia Mập. Mọi hành động, dù nhỏ, đều góp phần tạo nên một tương lai nơi Chà vá chân đen và các loài linh trưởng quý hiếm khác có thể sinh tồn và phát triển, tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng chà vá.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ xác định một số đặc điểm sinh thái loài chà vá chân đen pygathrix nigripes và đề xuất giải pháp bảo tồn tại vườn quốc gia bù gia mập tỉnh bình phước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu Linh trưởng ở Việt Nam Các nghiên cứu về động vật hoang dã, trong đó có các loài linh trưởng, ở Việt Nam được bắt đầu chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XIX do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện. Kể từ những năm 1960 đến nay, đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các loài linh trưởng được các nhà khoa học Việt Nam thực hiện cùng với các điều tra và nghiên cứu về đa dạng sinh vật. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu linh trưởng ở Việt Nam có thể được chia thành 3 giai đoạn sau: 1.

Giai đoạn trước năm 1954 Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về thú, trong đó có các loài linh trưởng, chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học người nước ngoài. Các nhà nghiên cứu tiêu biểu về các loài thú, trong đó có các loài linh trưởng ở Việt Nam trong giai đoạn này có thể kể đến: George Finlayson (1828), Mine- Edwards (1867 – 1874), Morice (1904), Brousniche (1887), Billet (1896 – 1898), Pavie (1879 – 1898), Boutan (1900 – 1906), De Pousargues (1904), Menegeaux (1905-1906), Delacour (1928 – 1930), H. Có thể nói, những kết quả nghiên cứu về linh trưởng ở Việt Nam, trước năm 1954, phần lớn là một phần kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài thông qua các cuộc điều tra và nghiên cứu thám hiểm nhằm phát hiện, mô tả loài mới, phân loại và thống kê thành phần loài, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài linh trưởng. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), mọi hoạt động download by : skknchat@gmail.com 6 nghiên cứu trực tiếp về các loài thú nói chung, các loài linh trưởng nói riêng ở Việt Nam bị gián đoạn.

Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (tháng 10 năm 1954), các nghiên cứu về đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng đã được tiếp tục và phát triển. Ở miền Bắc Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về thành phần loài của các khu hệ và cả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thú nói chung và các loài linh trưởng nói riêng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong giai đoạn 1956 – 1971 [12]. Ở miền Nam Việt Nam, chỉ có rất ít điều tra, nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian này; đáng chú ý là các công trình của Van Peenen và cộng sự (1969) [95]. Các nghiên cứu về linh trưởng có giá trị khoa học trong thời gian này phải kể đến các công trình là: - Đào Văn Tiến (1960), Đã mô tả một loài Cu li mới – Cu li nhỡ (Nycticebus intermedius) ở Việt Nam [103].

- Lê Hiền Hào (1973), Đã cung cấp những thông tin về phân bố, đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của 9 loài linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam [4]. download by : skknchat@gmail. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay Các điều tra, nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh vật, đặc biệt đối với các loài linh trưởng, được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả nước và đạt được rất nhiều kết quả có giá trị. Đội ngũ cán bộ Việt Nam nghiên cứu về linh trưởng cũng phát triển và lớn mạnh không ngừng.

Rất nhiều nghiên cứu không chỉ bó hẹp do các cán bộ khoa học Việt Nam tiến hành, mà còn có sự hợp tác quốc tế sâu rộng với các chuyên gia linh trưởng và các tổ chức bảo tồn quốc tế. Trong giai đoạn này, có nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về Linh trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện [3, 7, 10, 19, 20, 22, 37, 39, 53, 60, 61, 62, 64, 70, 71, 79, 88]. Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loài linh trưởng quý hiếm đã và đang được chú trọng. Hàng loạt các VQG và KBTTN đã được thành lập trên khắp cả nước để bảo tồn đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng quý hiếm.

Một số chương trình nghiên cứu về sinh thái và tập tính của các loài linh trưởng đã và đang được tiến hành. Kết quả điều tra, nghiên cứu về khu hệ linh trưởng của các địa phương, các vùng miền và các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài linh trưởng ở Việt Nam đã được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế. Một số vấn đề về phân loại học Linh trưởng ở Việt Nam Việt Nam được đánh giá là nước có mức độ đang dạng rất cao về các thú linh trưởng, với 25 loài và phân loài thuộc 3 trong số 5 họ linh trưởng của châu download by : skknchat@gmail.com 8 Á: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ và Voọc (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae). Hai họ còn lại ở châu Á không phân bố ở Việt Nam là Vượn nhảy nhỏ (Tarsiidae) và Đười ươi (Hominidae), hai họ này phân bố hẹp tại các đảo của thềm lục địa Sunda [12], [13], [14], [29], [74].

Trong số 25 loài và phân loài, 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam, đó là: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis) và Vượn đen (Nomascus nasutus nasutus). Ở Việt Nam, họ Cu li (Loridae) chỉ có 1 giống (Nycticebus) với hai loài là: Cu li lớn (Nycticebus bengalensis) và Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus). Loài Cu li nhỡ (Nycticebus intermedius) được Đào Văn Tiến mô tả vào năm 1960 [103] được coi đồng loài với loài Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) [5, 6, 10, 40]. Họ Khỉ (Cercopithecidae), ở Việt Nam, có hai phân họ: phân họ Khỉ (Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae), với 4 giống: Macaca, Trachypithecus, Pygathrix và Rhinopithecus.

Đây là họ có số loài và phân loài phong phú nhất, với 17 loài và phân loài. Trong đó, phân họ Khỉ (Cercopithecinae) chỉ có 1 giống (Macaca) gồm 6 loài và phân loài, đặc biệt phân loài Khỉ đuôi dài Côn Đảo (M. fascicularis condorensis) là phân loài đặc hữu của Việt Nam – hiện chỉ có phân bố ở một số đảo thuộc VQG Côn Đảo [21]. Phân họ Voọc (Colobinae) có 3 giống: Trachypithecus (7 loài và phân loài), Pygathrix (3 loài và phân loài: Chà vá chân đen Pygathrix nigripes, Chà vá chân đỏ Pygathrix nemaeus, và Chà vá chân xám Pygathrix cinerea) và download by : skknchat@gmail.

Đây là phân họ có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về phân loại học. Về giống Trachypithecus, hiện có khá nhiều ý kiến khác nhau về phân loại học của một số loài và phân loài của giống này. Ví dụ, những ý kiến trước đây cho rằng loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) ở Việt Nam có các phân loài: Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi ), Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi poliocephalus), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi. Tuy nhiên, Groves (2001) đã nâng các phân loài này thành các loài khác nhau [40].

Theo những nghiên cứu gần đây của Roos (2004) và Brandon-Jones và cộng sự (2004), phân loài Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri) thành loài Voọc mông trắng ( Trachypithecus delacouri); phân loài Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi poliocephalus) đổi thành loài Voọc Cát Bà (T. poliocephalus poliocephalus), các phân loài còn lại vẫn giữ nguyên là Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi francoisi ), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi ebenus) [21, 90]. Voọc bạc trước đây được biết với tên khoa học là T. Căn cứ theo các kết quả phân tích về di truyền học và phân bố địa lý, hiện nay, Voọc bạc ở Việt Nam được coi là một phân loài Voọc bạc (Trachypithecus villosus margarita) [21, 74, 90].

Voọc xám trước đây được biết với tên khoa học là Trachypithecus phayrei [5, 6, 10, 12,22, 25, 40], sau đó được định tên là Trachypithecus crepusculus [73, 90]. Theo kết quả nghiên cứu và hệ thống phân loài gần đây download by : skknchat@gmail.com 10 nhất của Brandon-Jones và cộng sự (2004) và Đặng Tất Thế (2005) Voọc xám, ở Việt Nam, được xem là một phân loài – Voọc xám (Trachypithecus barbei holotephreus) [11, 21]. Do những đặc điểm giống nhau của các loài thuộc giống Rhinopithecus và giống Pygathrix, nên một số nhà nghiên cứu, trước đây, xem hai giống này chỉ là một giống Pygathrix [25, 40, 82, 91]. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu linh trưởng vẫn cho rằng Rhinopithecus và Pygathrix là hai giống khác biệt [5, 6, 10, 12, 21, 37, 40, 46, 64, 73, 90].

Ở Việt Nam, giống Rhinopithecus chỉ có 01 loài – Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) [6, 10, 21, 73]. Trước đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng các loài và phân loài vượn của Việt Nam thuộc giống Hylobates [5, 12, 25]. Tuy nhiên, qua những nghiên cứu gần đây trên cơ sở phân tích về âm học của tiếng hót và di truyền học, các loài và phân loài vượn của Việt Nam được xếp vào giống Nomascus [21, 39, 40, 90]. Hiện nay, họ Vượn (Hylobatidae), ở Việt Nam, chỉ có 1 giống (Nomascus) với 5 loài và phân loài [21, 39, 40, 90].

Việt Nam là một trong những nước ở phân vùng địa - động vật Đông Dương (Indo-Chinese subregion) giàu về thành phần loài linh trưởng. So với châu Á (183 loài và phân loài), Việt Nam có 25 loài và phân loài (chiếm 13,66%) và chỉ đứng sau Indonesia (36,07%), Thái Lan (19,13%), Ấn Độ (15,30%), Trung Hoa (14,75%) và Malaysia (14,21%) [7, 21, 37]. Về quan hệ địa lý động vật học, khu hệ linh trưởng Việt Nam có quan hệ với các khu hệ phụ cận, trong đó yếu tố Đông Dương là trội hơn cả (với 17 loài và phân loài, chiếm 70,83%), tiếp đến là yếu tố Nam Trung Hoa (với 9 loài và phân loài, chiếm 37,50%), Ấn Độ (chiếm 16,67%), Mã Lai (chiếm 8,33%) và ít nhất là yếu tố Himalaya (4,17%). Ngoài ra, khi hệ linh trưởng Việt Nam cũng download by : skknchat@gmail.com 11 có tỷ lệ cao về yếu tố đặc hữu (chiếm 25,0%) [7, 21, 37].

Một số đặc điểm giống chà vá (Pygathrix) 1. Phân loại học Giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam: Giống Pygathrix ở Việt Nam có 3 loài gồm: Chà vá chân đỏ - Pygathrix nemaeus (Linnaeus, 1771), Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne - Edwards, 1871) và Chà vá chân xám - Pygathrix cinerea (Tilo Nadler, 1997). Chúng thuộc phân họ Voọc Colobinae, họ Khỉ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng Primates. Cả 3 loài này đều phân bố trên bán đảo Đông Dương.

Chà vá chân đen (1) Chà vá chân xám (2) (Pygathrix (Pygathrix nigripes) Chà vá chân đỏ (3) cinerea) (Pygathrix nemaeus) Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ