Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI Ở THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA 1. Đặc điểm địa bàn cư trú 1. Đặc điểm tự nhiên Thanh Hóa là tỉnh nằm phía Bắc Trung Bộ Việt Nam. Phía Nam giáp Nghệ An.
Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp Sơn La và nước bạn Lào. Phía Bắc giáp tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình. Là một tỉnh mà có người Thái tập trung khá đông, nhất là các huyện miền núi: Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Như Thanh.
Mỗi huyện có nhiều đơn vị hành chính thống nhất mà người Thái gọi là mường. Miền núi Thanh Hóa có các dãy núi song song chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trung bình so vơi mặt nước biển từ 800-1000m. Và có những thung lũng được cấu tạo do sự xâm thực của sông suối và bào mòn nói chung đã tạo ra thu hút được các điểm quần cư quan trọng với việc trồng lúa nước. Hoạt động kinh tế của cư dân vùng này chủ yếu tập trung theo các thung lũng sâu, dọc triền sâu dọc triền song hoặc đầu nguồn khe suối.
Đây là một vùng núi non hiểm trở, thời tiết thất thường và khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán thường xuyên đe dọa. =>Những yếu tố tự nhiên môi trường của vùng, ảnh hưởng đến phương thức canh tác, các hoạt động kinh tế xã hội của con người cũng như môi trường sinh thái khu vực đang đứng trước tình trạng bị đe dọa, rừng cạn kiệt, bị chặt phá làm nương rẫy bừa bãi. Miền núi Thanh Hóa là một khu vực rộng lớn khoảng 8000km2- chiếm 2/3 diện tích của tỉnh và với một số dân gần 1 triệu gười(1/3 dân số Thanh Hóa). Họ cư trú chủ yếu là 2 bên thượng nguồn sông Mã, sông Chu và các chi lưu của nó.
Trước cách mạng tháng 8 ở miền núi Thanh Hóa hình thành nên 40 mường của người Thái và khoảng 40 11 mường của người Mường. Trong đó có 3 mường có thế lực lớn hơn về cả kinh tế, chính trị là mường Ca Gia ở Quan Hóa, Mường Khòong ở Bá Thước và mường Chiềng Vạn ở Thường Xuân. Thường Xuân là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa. Cách Thành phố Thanh Hóa khoảng 60 km.
Huyện Thường Xuân có diện tích tự nhiên: 1.105,05 km², là huyện rộng nhất tỉnh Thanh Hóa. Về địa giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Lang Chánh, Ngọc Lặc; phía Tây giáp huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn; phía Nam giáp huyện Như Xuân và Như Thanh. Toàn huyện có 16 xã, 01 thị trấn với 143 thôn, bản và 05 khu phố; 20.893 nhân khẩu, số người trong độ tuổi có khả năng lao động là 43. Gồm các dân tộc là Thái, Kinh, Mường: dân tộc Thái 45.523 người, chiếm 53%; dân tộc Kinh 37.192 người, chiếm 43,3%; dân tộc Mường 3.178 người chiếm 3,7% (Số liệu dân số có đến 31/12/2011).
Dân cư trong xã có hai dân tộc sống xen kẽ nhau là Thái, Mường và Kinh. Đất đai Huyện Thường Xuân là huyện có địa hình khá phức tạp, với diện tích đồi núi là chủ yếu chiếm 3/4 tổng diện tích toàn huyện còn lại là đồng bằng và thung lũng nhỏ hẹp. Huyện gồm có các nhóm đất chính sau: - Đất Feralit màu vàng, nâu vàng phát triển trên đá Mắcma axít. - Đất Feralit màu vàng phát triển trên đá trầm tích, biến chất.
- Đất Feralit màu vàng phát triển trên đá vôi. - Đất Feralit mùn phát triển trên núi cao. - Đất Feralit phát triển do trồng lúa. Địa hình 12 Toàn huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phía Đông và Nam.
Có nhiều dãy núi như Chòm Vịn xã Bát Mọt cao 1.442m so với mặt nước biển. Địa hình bị chia cắt bởi các sông: Sông Khao, sông Chu, sông Đặt, sông Đằn. Có nhiều đồi bát úp, đất nông nghiệp nhỏ lẻ. Các xã vùng cao chủ yếu là ruộng bậc thang không chủ động tưới tiêu, bị rửa trôi mạnh.
Có thể chia địa hình làm 3 vùng như sau: - Vùng cao gồm 4 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ, có độ cao trung bình từ 500-700m. - Vùng giữa gồm 9 xã: Lương Sơn, Tân Thành, Xuân Thắng, Xuân Lộc, Vạn Xuân, Luận Khê, Xuân Cẩm, Luận Thành, Xuân Cao, có độ cao trung bình từ 150-200m. - Vùng thấp gồm 3 xã và 1 thị trấn: Ngọc Phụng, Thọ Thanh, Xuân Dương và Thị trấn Thường Xuân, có độ cao trung bình từ 50-150m. Khí hậu Khí hậu mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao, mùa đông khô hanh, mùa hè nóng, mưa nhiều.
Thường Xuân nằm trong vùng ảnh hưởng của gió Tây Nam khô và nóng, hàng năm có từ 20 đến 25 ngày gió Tây Nam, hay xảy ra những đợt rét đậm kéo dài.6000C, nhiệt độ không khí trung bình 22 - 250C, tối cao nhiệt độ 37 - 400C, tối thấp nhiệt độ 3 - 50C; lượng mưa trung bình năm 1600-2000 mm, phân bố không đều, tập trung 60-80% vào mùa mưa; số ngày mưa trong năm 150-160 ngày; độ ẩm không khí tương đối, trung bình năm 85-86%. Sông suối Sông suối ở đây chủ yếu chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và Tây Đông với mật độ dòng chảy tập trung ở các vùng lòng máng dọc theo chân núi và xen giứa các quả đồi. Lưu lượng nước không ổn định thay đổi theo mùa mưa và mùa khô. Đặc điểm nổi bật của song suối nới đây là nước dâng nhanh khi có mưa lũ và rút cũng rất nhanh do có địa hình dốc hẹp.
13 Tài nguyên sinh vật Là huyện có diện tích rừng là chủ yếu nên hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng với nhiều loại động thực vật quý hiếm như Nai, Hoẵng, Lim, Lát…Ngoài ra còn các hệ thống động thực vật của rừng cung cấp thực phẩm thêm hàng ngày như nấm, măng… và Giang, Nứa, Luồng… thì dùng làm vật dụng gia đình. Đặc điểm dân cư Toàn huyện có 16 xã, 01 thị trấn với 143 thôn, bản và 05 khu phố; 20.893 nhân khẩu, số người trong độ tuổi có khả năng lao động là 43. Gồm các dân tộc là Thái, Kinh, Mường: Dân tộc Thái 45.523 người, chiếm 53%; Dân tộc Kinh 37.192 người, chiếm 43,3%; Dân tộc Mường 3.178 người chiếm 3,7% (Số liệu dân số có đến 31/12/2011). Dân cư phân bố không đều, tập trung phần lớn ở vùng thấp, càng lên cao sự phân bố càng thưa thớt; mật độ dân số bình quân là 76 người/km2, trong đó mật độ cao nhất là ở Thị trấn Thường Xuân 1750 người/km2, mật độ dân số trung bình ở các xã vùng cao là 55 người/km2.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,97%/năm. Đặc điểm xã hội truyền thống, đời sống kinh tế * Xã hội truyền thống Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo. Tông tộc Thái gọi là Đẳm. Làng bản của người Thái thường tập trung ở thung lũng bằng hay dưới chân núi, họ ở nhà sàn, tập trung thành từng bản, mường.
Bản là đơn vị quần cư ổn định theo ruộng nước, có từ năm, bảy đến hàng trăm nóc nhà, nhiều bản có quan hệ gắn bó về mặt huyết thống, kinh tế, văn hóa hợp thành một mường. Quan hệ dòng họ của người Thái được biểu hiện ra ở 2 khía cạnh: - Một là khía cạnh tô tem giáo: Họ Lò kiêng ăn thịt chim Láng Lò, không ăn măng Lò; Họ Vi kiêng dùng quạt (vi) để quạt xôi; Họ Lộc không giết và ăn thịt Hổ; Họ Lò, họ Vi kiêng giết và ăn thịt Rắn, Lươn; Họ Lường kiêng ăn nấm mọc trên cây đã ngã sắn trên rừng (lương) 14 - Hai là quan hệ liên minh biểu hiện ra 3 mối quan hệ dòng họ: Quan hệ Ải nọng là những thành viên nam của dòng họ, cùng một tổ tiên, người Thái gọi là Đẳm, có “ải nọng huôm po” (anh em cùng cha), “ải nọng huôm pú” (anh em cùng ông), “ải nọng huôm pẩu” (anh em cùng cụ). Quan hệ Lúng ta là các thành viên nam bên vợ (gọi là “ lung ta phạ bóm”), các thành viên nam bên bên mẹ (lung ta me), các thành viên nam bên bà nội(lung ta da). Quan hệ Nhính xao là các thành viên nam bên anh/em rể (“nhính xao” hay “nhinh xao chảu”), quan hệ giữa “lung ta” và “nhính xao”là quan hệ thông gia, nhưng được phân cấp rõ ràng.
Người Thái gắn kết xã hội trong phạm vi bản, bởi một số dòng họ cùng chung nhau hệ thống thủy nông và lịch canh tác ruộng nước cũng như ruộng rẫy, cùng chung nhau những cánh rừng, con sông, suối. Nói chung là liên kết kinh tế trên một địa bàn nhất định. Gia đình người Thái là gia đình nhỏ phụ quyền. Trong mỗi gia đình thường có từ ba đến bốn thế hệ cùng chung sống: ông bà, bố mẹ, con cái và cháu.
Vai trò của người đàn ông trong gia đình rất lớn, mọi việc phải có sự đồng ý, thông qua ý kiến của người chồng,người cha, đặc biệt trong việc bố trí nhà cửa. Truyền thống tính chất phụ quyền được biểu hiện ở việc mỗi nóc nhà được tượng trưng bằng chiếc cột chính (sâu cốc), ở đầu cột treo các vật thiêng như: lông gà, xương thú, xương cá to. Ông chủ nhà nằm bên cột chính, cạnh bàn thờ ma nhà. Sự phân công lao động của người Thái được phân theo giới tính và độ tuổi.
Những việc nặng sẽ do người đàn ông đảm nhận, còn phụ nữ sẽ làm những công việc yêu cầu độ dẻo dai, đảm đang của người phụ nữ. Người Thái thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo chế độ phụ quyền từ lâu đời. Ở Thanh Hóa người Thái không duy trì hình thức ở rể phổ biến, ở rể đời chỉ hạn hữu trong trường hợp nhà vợ không có con trai và hai bên tình nguyện 15 thì ở rể suốt đời. Con trai lấy vợ theo hai hình thức là ăn hỏi cưới xin và lấy vợ chạy theo.
Tang ma Người Thái chia vũ trụ làm 3 tầng - Mường trời (mường hạ) trên cùng - Trần gian (mường lùm) ở giữa - Âm phủ (mường bọc đai) dưới cùng Và người Thái có quan niệm chết là tiếp tục sống ở thế giới bên kia vì vậy đám ma là tiễn người chết về với “mường trời”. Là tộc người có tính cố kết cộng đồng rất cao nên khi trong bản có người chết thì được loan báo bằng ba hồi trống để thông báo cho mọi người biết nhà có người chết. Mọi người sẽ đến chuẩn bị lo cùng gia chủ. Đám tang người Thái thường kéo dài 5- 6 ngày vì phải nhờ thầy mo xem ngày giờ có khi kéo dài đến cả tuần thì mới có ngày giờ tốt thì mới đưa tang.