Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn nghiên cứu 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài * Tiếp cận sinh kế là khái niệm mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài (external supporters) cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo (Dẫn theo Nguyễn Viết Cách, 2018).
Vì mục tiêu này, chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng đệm BQL rừng Đặc dụng - Phòng hộ Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. a) Khái niệm vùng đệm Theo quy định tại Khoản 25 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2020) thì nội dung này được quy định như sau: “Vùng đệm là vùng đất, vùng rừng, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng”.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản, (1999) cho rằng: Vùng đệm được xây dựng chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ để họ giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn (Dẫn từ Đinh Thị Hà Giang, 2017). "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm".
4 b) Dân tộc thiểu số là gì Tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, được định nghĩa như sau: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống, ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10. Hiện nay, dân tộc đa số là dân tộc Kinh (Việt), 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số.
Theo Tổng điều tra năm 2016, dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số toàn quốc; 6 dân tộc có số dân gần một triệu trở lên là dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơme, Nùng, Hmông; 16 dân tộc thiểu số ít người có số dân dưới 10.000 là La hủ, La ha, Pà thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô lô, Mảng, Cờ lao, Bố y, Cống, Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ đu (Dẫn từ Phan Văn Hùng và Cs, 2007). c) Sinh kế của người dân đại phương Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống, (Dẫn từ Đinh Thị Hà Giang, 2017). Có quan điểm khác cho rằng: Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh) cho rằng, một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng.
Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên. d) Sinh kế bền vững của người dân địa phương Hướng phát triển sinh kế cho người dân tại các Vườn quốc gia trong và ngoài nước, khu BTTT là sinh kế bền vững. Trước khi xem xét vấn đề sinh kế bền vững chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm về phát triển bền vững. 5 Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.
Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; Nghĩa là bảo vệ Môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên. Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh, 2012). Phát triển là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người, thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau (Mạc Đường, 2005). Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ.
Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ (Đặng Đình Đào và Cs (2014). Sinh kế bền vững không được khai thác, gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai (Đặng Đình Đào và Cs (2014). Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận. Có sự tham gia của người dân.
Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động (Đặng Đình Đào và Cs (2014). Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể phục hồi và đối phó từ những áp lực, các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên lai (Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh, 2012).2 Phân tích sinh kế bền vững của người dân a) Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, Các nguồn lực và khả năng mà con người có, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế, được xem là các vốn hay tài sản sinh kế bao gồm 5 loại như sau: - Nguồn lực xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau. - Nguồn lực con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, thời gian, sức khỏe và khả năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế. - Nguồn lực tự nhiên: Là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc một cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như: đất đai, vật nuôi, mùa màng, nước, rừng và các nguồn tài nguyên ven biển.
- Nguồn lực tài chính: Là các nguồn lực tài chính do con người có được như nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như tiền do nhân than gửi về, lương hưu hay những trợ cấp của Nhà nước. - Nguồn lực vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: Hệ thống cấp nước và năng lượng, giao thông, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ sinh hoạt trong gia đình. Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc kết hợp, lựa chọn, sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ. Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại tài sản sinh kế hay nguồn vốn.
Qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; Cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; Họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên;. 7 Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế đó là những điều mà con người mong muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài, bao gồm: Thu nhập cao và ổn định hơn, sự hưng thịnh hơn, cơ hội việc làm tốt hơn, kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng (Dẫn từ Đinh Thị Hà Giang, 2017). - Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền hoặc những thứ mua được bằng tiền, người ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác. Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố, ví dụ như: Căn cứ vào vấn đề y tế và giáo dục cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, sự an toàn của đời sống vật chất.
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống trong trạng thái dể bị tổn thương.