Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rừng cộng dong. Chương 2: Thực trạng quản lý rừng cộng đồng tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng cộng đông trên địa bàn huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LY RUNG CỘNG DONG 1.
Cơ sở lý luận về quan lý rừng cộng đồng 1. Tổng quan chung về rừng 11. Khái niệm rung Đến nay có rất nhiều các khái niệm, định nghĩa khác nhau đã được nêu ra về rừng: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khi quyền. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Dat và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
(Morozov, 1930) Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thê các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài. Tcachenco, 1952) Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyền địa cầu. Mê lê khôp, 1974) Điều 2 Luật Lâm Nghiệp 2017 của nước ta đưa ra khái nệm về rừng “là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nắm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tổ môi trường khác, trong đó thành phan chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên”.
Như vậy, rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thê thực vật, động vật, vi sinh vật, đất và các yêu tố môi trường khác trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Phân loại rừng Rừng có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau như dựa theo chức năng của rừng, theo trữ lượng rừng, theo đặc điểm sinh thái của rừng, theo nguồn gốc, hoặc dựa vào sự tác động của con người lên rừng. * Phân loại theo chức năng - Rừng sản xuất là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất gỗ, lâm sản, đặc sản. - Rừng đặc dụng là loại rừng có mục đích chủ yếu dé bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.
- Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu dé bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống XÓI mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường. * Phân loại theo trữ lượng - Rừng giàu là loại rừng có trữ lượng rừng trên 150 mỶ/ha. - Rừng trung bình có trữ lượng rừng nam trong khoảng (100-150) m3/ha. - Rừng nghèo có trữ lượng rừng nằm trong khoảng (80-100) m3/ha 2 - Rừng kiệt có trữ lượng rừng kiệt thấp hơn 50 m3/ha * Phân loại theo đặc điểm sinh thái - Kiểu rừng kín thường xanh mưa 4m nhiệt đới - Kiểu rừng kín rụng lá hơi 4m nhiệt đới - Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới - Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới - Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới - Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp - Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới - Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới - Kiểu rừng kín thường xanh mưa âmá nhiệt đới núi thấp - Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim âm á nhiệt đới núi thấp - Kiểu rừng kín cây lá kim 4m ôn đới âm núi vừa - Kiểu quan hệ khô lạnh vùng cao - Kiểu quan hệ lạnh vùng cao * Dựa vào tác động của con người - Rừng tự nhiên là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên, gồm có rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, rừng phục hồi, và rừng sau khai thác.
- Rừng nhân tạo được hình thành do con người trồng, bao gồm rừng trồng mới trên đất chưa có rừng, rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có, rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác. * Dựa vào nguồn gốc - Rừng chổi là rừng được trồng bằng chi thân, chồi rễ hay chdi gốc. Chi áp dụng cho các loài cây có khả năng đâm chồi mạnh. - Rừng hat là rừng có nguồn gốc hạt, tiến hành tái sinh hạt sau khai thác trong quá trình nuôi dưỡng rừng.
Rừng hạt có sức sống mạnh, ôn định, đời sống dài, cây gỗ lớn * Phân loại rừng theo tuổi - Rừng non là giai đoạn phát triển của rừng từ lúc cây con hình thành, cho đến lúc cây mọc ôn định về chiều cao. - Rừng sào là rừng bắt đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thé cây gỗ. Giai đoạn này cây gỗ phát triển mạnh về chiều cao - Rừng trung niên là rừng khép tán hoàn toàn và phát triển chiều cao chậm lại nhưng có sự phát triển về đường kính. Rừng đã thành thục về tái sinh - Rừng già có trữ lượng cây gỗ đạt tối đa.
Có một vài cây gỗ già, chết. Tán cây thưa dan, cây rừng van ra hoa kết quả nhưng chat lượng không tốt 1. Vai trò cua rừng * Vai trò của rừng đổi với môi trường - Vai trò của rừng đối với khí hậu Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng ké lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất nhờ phủ của tán rừng là rất lớn. Đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái dat mà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cau.
Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn carbon trong khí quyền. Vì thé sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng 4m lên toàn cầu và ổn định khí hậu. - Vai trò của rừng đối với đất đai Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất. Ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì.
Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ. Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt. Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng và mãnh liệt. Ước tính ở nơi rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mat khoảng 10 tan mùn/ ha.
Đồng thời các quá trình feralitic, tích tụ sắt, 17 nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong, lại tăng cường lên, làm cho đất mat tinh chất hóa lý, mat vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chat dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến căn cỗi, tro sỏi đá. Thể hiện một qui luật cũng khá phổ biến, đối lập han hoi với qui luật trên, tức là rừng mat thì đất kiệt, và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong. - Rừng đối với các tài nguyên khác Rừng có vai trò điều tiết lượng nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn. Rừng có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyên nó vào lượng nước ngắm xuống đất và vào tầng nước ngầm.
Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa). Rừng có vai trò rất lớn trong việc chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất nội địa. Rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, cung cấp gỗ, lâm sản. Đồng thời, Rừng nơi cư trú của rất nhiều các loài động vật rừng là nguồn cung cấp thực phẩm, được liệu, nguồn gen quý, da lông, sừng thú.
* Giá trị kinh tế của rừng - Lâm sản Rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của con người. Từ các loại gỗ, tre, nứa có thé tao ra hàng trăm mặt hàng da dang và phong phú như trang sức, mĩ nghệ, dụng cụ lao động, thuyền bè truyền thống. cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện đại. Tùy vào đặc điểm tính chất của từng loại cây mà chúng ta có sản phâm phù hop.
Chang hạn gỗ huỳnh, sang lẻ, sao nhẹ, bền, xẻ ván đài, ngâm trong nước mặn không bị hà ăn nên được làm ván các loại thuyền đi trên biển. Gỗ Lim, gỗ Sếu là thứ gỗ bền thiên niên nên thường được dùng làm đình chùa, cung điện, chỉ ghép mộng chứ không đóng đỉnh mà vẫn giữ được công trình hàng thế kỷ. - Dược liệu Rừng là nguồn dược liệu vô giá. Từ ngàn xưa, con người đã khai thác các sản phẩm của rừng dé làm thuốc chữa bệnh, bồi dưỡng sức khỏe.
Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “được liệu rừng” nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y. - Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững. Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt. Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thêm thu nhập cho dân địa phương.
Thông quá đó, người dân đã gắn bó với rừng hơn, tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ và xây dựng rừng. Tuy nhiên đồng nghĩa với lịch ích từ hoạt động du lịch sinh thái, còn tồn tại thêm một vấn đề đặt ra về môi trường bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch và làm thế nào để quản lí môi trường nói chung và các hoạt động khai thác du lịch sinh thái nói riêng một cách bền vững.