Đặt vấn đề Trong bối cảnh hiện nay, thu nhập là vấn đề mang tính cấp bách cần được quan tâm hàng đầu đối với người dân nói chung và người dân sống gần rừng nói riêng. Việc nâng cao thu nhập của người cũng nhằm dé phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt quan trọng đối với người dân sống gần rừng. Các giải pháp nâng cao thu nhập thường can thiệp vào các hoạt động sinh kế của người dân như trồng trọt, chăn nuôi,. là chủ yếu.
Tuy nhiên, việc nâng cao thu nhập của người dân là một vấn đề không đơn giản và gặp nhiều khó khăn và bất cập. Những khó khăn liên đến thường là thiếu đất đai canh tác, điều kiện sản xuất không thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu vốn, hạn chế về trình độ học vấn, năng lực sản xuất,. Do đó, nguồn thu nhập của người dân từ rừng và đất rừng chưa thực sự đem lại hiệu quả kinh tế cao và ồn định. Hệ quả của việc này dẫn đến người dân chuyên mục đích sử dụng đất từ cây dai ngày sang ngắn ngay; từ quảng canh sang thâm canh nhằm đem lại hiệu qua cao và hướng đến thu nhập ổn định hơn cho người dân.
Do vậy việc nâng cao thu nhập là vân đê cân quan tâm đôi người dân sông gân rừng. Bon Bu Prăng 2 là một bon tương đối xa với trung tâm xã Quảng Trực; là một bon mới tái lập nên đời sông của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Được sự quan tâm của nhà nước, chính quyền địa phương và các ban quản lý bảo vệ rừng cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm và các sinh hoạt thiết yếu hằng năm và tạo việc làm ồn định trong việc nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ. Đồng thời, nhờ hoạt động sinh kế gần rừng và đất rừng hai mùa rõ rệt quanh năm đã cung cấp các nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ đã góp phan đảm bảo cuộc sống ôn định, là nguồn thu nhập lâu dài cho bả con ở các bon vùng giáp biên.
Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế xã hội chung của xã, kinh tế của bon Bu Prăng 2 không chỉ dựa vào việc hỗ trợ từ chính quyền cũng như vào việc khai thác tài nguyên rừng mà cần phải tự ôn định sản xuất trên diện tích đất của mình. Vì những lí do đó, nên tôi chọn bon Bu Prăng 2, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông dé thực hiện khoá luận “Tìm hiểu nguồn thu nhập từ rừng và đất rừng của cộng đồng dân cư bon Bu Prăng 2, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông”. Nghiên cứu này, mô tả được thực trạng đời sống của người dân tại đây, biết được những nguồn thu nhập các hoạt động sinh kế của họ. Từ đó, có thể có các giải pháp hợp lí, để có thể cải thiện đời sống, phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các chương trình giúp đỡ người dân.
Mục tiêu Dé lam sáng tỏ mục dich của nghiên cứu này, các mục tiêu sẽ được thực hiện như sau: - Tìm hiểu được thực trạng thu nhập của người dân từ rừng và đất rừng. - Phân tích được sự đóng góp của các nguồn thu nhập chính từ rừng và dat rừng của người dân tại địa điểm nghiên cứu. - Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả của các nguồn thu nhập từ rừng và đất rừng của người dân tại đây.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu bon Bu Prăng 2, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức. - Đối tượng: Những hộ gia đình có thu nhập từ rừng và đất rừng, không tìm hiểu các nguồn thu nhập của người dân trên đất nông nghiệp tại bon Bu Prăng 2, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông”.
Chương 2 GIỚI THIEU DIA DIEM, TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 2. Vị trí địa lí Bon Bu Prăng 2 nằm ở phía Tây Nam của huyện Tuy Đức có vị trí địa lý: - Phía Tây giáp đồn biên phòng cửa khẩu Bu Prăng và xã Đăk Đam (Campuchia), - Phía Nam giáp xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, - Phía Bắc giáp Campuchia, - Phía Đông giáp xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông. Địa hình Có dạng hình đôi núi, địa hình đa dạng, phong phú và bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao, với các cao nguyên rộng lớn, đốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng có độ cao trung bình so với mặt nước biển trung bình là 800m.
Khí hậu, thủy văn Khí hậu chuyền tiếp giữa hai tiêu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chính vì vậy chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới âm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. - Khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. - Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm. - Lượng mưa trung bình năm 2.
Mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kẻ. - Nhiệt độ trung bình năm 22-23°C, nhiệt độ cao nhất 35°C, thấp nhất 14°C. Với điều kiện thời tiết này rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm. Về dân số Năm 2012 bon Bu Prăng 2: 70 hộ = 241 khâu.
Trong đó: đồng bảo dân tộc tại chỗ: 230 khẩu; dân tộc kinh: 07 khâu; dân tộc khác 04 khẩu. Năm 2023 bon Bu Prăng 2: 96 hộ với 305 khẩu. Trong đó: đồng bào dân tộc tại chỗ: 96 hộ với 265 khẩu; dân tộc kinh: 0 hộ 12 khẩu; dân tộc khác 0 hộ 28 khẩu.5 Dat sản xuất - Số hộ đã được giao đất là 70 hộ, với diện tích 143,16 ha, trong đó: - Số hộ được giao đủ 02ha là 60 hộ, diện tích 128,83ha; - Số hộ được giao đất nhưng chưa giao đủ 02ha là 10 hộ, diện tích 14,33ha. - Số hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 45 hộ, với diện tích 59,37ha.
Kinh tế, VH-XH, an ninh trật tự Đời sống cơ bản của bà con trong bon: Nhiều hộ dân dần 6n định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo; người dân không còn tư tưởng chặt phá rừng làm ray, di canh tự do; con em các gia đình được chăm sóc y tế cơ bản và đi học đầy đủ. Hằng năm, người dân được nhận sự hỗ trợ như giống cây trồng, vật nuôi từ chính sách của Nhà nước dé họ tự sản xuất, tự cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm và các sinh hoạt thiết yếu hằng ngày. Da phần người dân trồng các loại cây cho thu hoạch có giá trị kinh tế cao như mắc ca, cà phê, tiêu,. góp phần đảm bảo cuộc sống ôn định, là nguồn thu nhập lâu đài cho ba con ở các bon vùng giáp biên.
Người dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương. Thực hiện tốt các quy định khu vực biên giới, không tham gia xâm nhập, vượt biên, đồng thời thực hiện tốt các quy định thăm thân. Phối hợp các đồn Biên phòng tham gia các tổ đường biên mốc giới, tuần tra bảo vệ cột mốc biên giới đúng quy định. - Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn + Thuận lợi: Nhìn chung, cuộc sống của bà con nhanh chóng ổn định, nhiều gia đình M”Nông sau khi lập gia đình cho con cái đã tách khẩu đến đây định cư.
Con em các gia đình được chăm sóc y tế cơ bản, Nhà nước cũng mở trường mam non và trường tiêu học tại 02 khu vực này để các em nhỏ thuận tiện học hành. Lên cấp cao hơn thì chuyến ra trung tâm xã Quảng Trực. Năm học 2014-2015 trường mam non Hoa Ngọc Lan và trường tiểu học Lê Đình Chinh có 282 học sinh, đến năm học 2022-2023 có 391 học sinh, tăng 101 học sinh. Các hộ thuộc đối tượng dự án đã nhận đất ở cùng nhà ở, đất sản xuất 2 ha/hộ, được Chính phủ hỗ trợ vật nuôi, con giống, cây trồng dé người dân yên tâm lao động và sinh sống.
Một cuộc sống mới đang được nhân lên tại vùng đất biên cương này. Sau khi ôn định nơi ăn, chốn ở cho các hộ dân, huyện Tuy Đức cũng triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ bà con phát triển sản xuất, chăn nuôi. Tiêu biểu như chương trình hỗ trợ giống mắc ca, hỗ trợ kỹ thuật dé bà con trồng các loại cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu; các chương trình sinh kế chăn nuôi Bò, đê, ngan. Nhiều hộ dân dan ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, gắn bó với vùng đất xa xôi nhất nhì của tinh Đắk Nông và cũng là miền biên cương tô quốc.
Người dân không còn tư tưởng chặt phá rừng, di canh tự do. Cuộc sống của 150 hộ đã có nhiều bước khởi sắc, đến nay dân số ngày càng tăng. + Khó khăn: Còn một số hộ dân tại bon tái lập là chưa về sinh sống đủ số hộ, còn đang sinh sống tại nơi ở cũ, cụ thé còn 21 hộ chưa về sinh sống theo quy định. Tổng quan các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu 2.
Tống quan đến các nghiên cứu về sinh kế Bùi Văn Tuấn, (2015) với đề tài “Thue trang và giải pháp đảm bdo sinh kế bên vững cho cộng dong dân cư ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hoa” đã đưa ra kết luận: Sinh kế của cộng đồng dân cư quận Bắc Từ Liêm có những thay đổi sâu sắc, các nguồn lực sinh kế của cộng đồng dan cư có sự chuyền biến tích cực từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ hộ gia đình. Bên cạnh những thuận lợi cho việc chuyên đổi và nâng cao sinh kế, cộng đồng dân cư quận Bắc Từ Liêm con gặp không ít khó khăn. Theo kết quả nghiên cứu thì sinh kế của cộng đồng dân cư quận Bắc Từ Liêm tuy có chuyên biến, nhưng còn thiếu bền vững. Dé dam bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ở quận Bắc Từ Liêm cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và nhân dân để khắc phục những điểm yếu, nâng cao sinh kế của người dân.