Tổng quan nghiên cứu

Quản trị tài nguyên rừng và phát triển kinh tế hộ gia đình vùng cao là bài toán chiến lược trong công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững tại Việt Nam. Tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, tổng diện tích đất lâm nghiệp đạt 66.949,96 ha, chiếm tới 78,49% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó rừng sản xuất chiếm 64,14%, rừng phòng hộ chiếm 19,04% và rừng đặc dụng chiếm 16,82%. Độ che phủ rừng của địa bàn duy trì ở mức cao, dao động từ 66% đến 73%. Mặc dù sở hữu tiềm năng lâm sinh phong phú, đời sống của hơn 41.000 cư dân với 27.311 lao động trên 15 tuổi tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản sinh kế, đặc biệt khi các chính sách đóng cửa rừng tự nhiên và hạn chế khai thác được thực thi nghiêm ngặt.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Trần Thị Thanh Huyền, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quốc Chỉnh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá thực trạng các nguồn lực sinh kế và kết quả sinh kế của người dân phụ thuộc vào rừng tại huyện Na Rì. Mục tiêu cụ thể là lượng hóa mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng, phân tích sự khác biệt về 5 nguồn vốn sinh kế giữa các nhóm hộ và thiết lập hệ thống giải pháp gia tăng giá trị kinh tế giai đoạn 2016-2020.

Phạm vi không gian nghiên cứu được triển khai tại huyện Na Rì, tập trung khảo sát chuyên sâu tại 2 xã đại diện là Lạng San và Văn Học. Khung thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp thực hiện vào tháng 4 năm 2015 trên cỡ mẫu 130 hộ gia đình. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi chỉ ra rằng tỷ lệ hộ nghèo ở nhóm phụ thuộc nhiều vào rừng lên tới 34,61% - 41,00%, cao hơn đáng kể so với mức 30,99% ở nhóm ít phụ thuộc, cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác cho việc tái cơ cấu chính sách lâm nghiệp địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn kế thừa và vận dụng sáng tạo Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2001), kết hợp với lý thuyết tiếp cận sinh kế nông thôn khởi xướng bởi Robert Chambers và Conway từ thập niên 1990. Khung phân tích xem xét sự tương tác đa chiều giữa 5 thành tố chính: bối cảnh dễ bị tổn thương, 5 nguồn vốn sinh kế, cấu trúc thể chế chính sách, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế đầu ra.

Hệ thống 5 nguồn vốn sinh kế được định lượng hóa bao gồm:

  • Vốn con người: Đo lường qua quy mô nhân khẩu bình quân, tỷ lệ lao động trong độ tuổi, độ tuổi trung bình của chủ hộ, trình độ học vấn và tỷ lệ học sinh đến trường đúng độ tuổi đạt 100% ở bậc tiểu học.
  • Vốn tự nhiên: Diện tích đất rừng, đất nông nghiệp, đất khác và khả năng tiếp cận nguồn nước sạch.
  • Vốn tài chính: Tích lũy tiền mặt, tiền gửi tiết kiệm, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng chính sách và mức độ đa dạng hóa với trên 3 nguồn thu nhập.
  • Vốn vật chất: Tình trạng kiên cố hóa nhà ở, giá trị tư liệu sản xuất và tài sản sinh hoạt gia đình.
  • Vốn xã hội: Mức độ tham gia các tổ chức đoàn thể, sự tin tưởng lẫn nhau trong thôn bản và cơ hội tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng phân loại chiến lược sinh kế của Babulo và cộng sự (2008), phân chia 130 hộ điều tra thành 3 nhóm chiến lược dựa trên tỷ trọng thu nhập từ rừng: nhóm phụ thuộc ít vào rừng (LS1 - thu nhập từ rừng chiếm dưới hoặc bằng 20% tổng thu nhập), nhóm phụ thuộc vừa phải (LS2 - tỷ trọng từ trên 20% đến 40%) và nhóm phụ thuộc nhiều vào rừng (LS3 - tỷ trọng thu nhập từ rừng vượt trên 40%).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn, báo cáo kinh tế xã hội huyện Na Rì giai đoạn 2010-2015 với phương pháp điều tra sơ cấp có sự tham gia của người dân (PRA). Quy mô mẫu khảo sát được xác định theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin (1960) với tổng thể 1.058 hộ và sai số biên 10%, xác định cỡ mẫu tối thiểu 91 hộ. Để nâng cao độ tin cậy và tính đại diện, tác giả mở rộng quy mô điều tra thực tế lên 130 hộ tại 6 thôn vùng cao: Nà Hiu, Nặm Cà, Khuổi Sáp (xã Lạng San - 63 hộ) và Pò Pheo, Nà Cà, Pò Ran (xã Văn Học - 67 hộ).

Quy trình lượng hóa nguồn lực sinh kế được chuẩn hóa theo phương pháp của B. Becher (2012) qua 4 bước: lựa chọn 3 đến 5 chỉ tiêu cho mỗi nguồn vốn; phân chia 130 mẫu quan sát theo 5 mức điểm tăng dần (bước nhảy 26 mẫu tương ứng 20, 40, 60, 80 và 100 điểm); xác định trọng số cho từng biến số; tính toán chỉ số tổng hợp cho từng nguồn lực (ngưỡng tốt khi đạt từ 50 điểm trở lên). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, sử dụng thống kê mô tả, phương pháp so sánh và kiểm định Student T-test nhằm xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cặp nhóm hộ LS1, LS2 và LS3.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm từ 130 hộ điều tra tại huyện Na Rì đem lại 4 phát hiện khoa học mang tính đột phá:

Thứ nhất, cơ cấu phân tầng phụ thuộc vào rừng phản ánh rõ nét thực trạng sinh kế địa phương. Trong tổng số 130 hộ, nhóm LS1 chiếm tỷ trọng lớn nhất với 54,62% (71 hộ), nhóm LS2 chiếm 26,92% (35 hộ) và nhóm LS3 chiếm 18,46% (24 hộ). Cơ cấu kinh tế có sự liên hệ chặt chẽ với tỷ lệ nghèo đa chiều: tỷ lệ hộ nghèo tăng dần từ 30,99% ở nhóm LS1 lên 37,14% ở nhóm LS2 và đạt mức 34,61% đến hơn 41% ở nhóm LS3.

Thứ hai, tồn tại sự nghịch lý về phân bổ nguồn lực đất đai giữa các nhóm hộ. Trái ngược với các giả định truyền thống cho rằng hộ phụ thuộc nhiều vào rừng sẽ sở hữu diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm LS1 lại sở hữu diện tích rừng bình quân được cấp quyền sử dụng đất cao hơn đáng kể so với nhóm LS2 và LS3. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc các hộ LS3 chủ yếu sinh sống bằng nghề khai thác lâm sản ngoài gỗ (măng rừng, nấm hương, mộc nhĩ, dược liệu) tại các vùng rừng tự nhiên mở hoặc rừng phòng hộ do nhà nước quản lý mà không cần quyền sở hữu đất lâm nghiệp chính thức.

Thứ ba, ngũ giác sinh kế của toàn bộ địa bàn nghiên cứu ở mức trung bình thấp, với hầu hết các chỉ số tổng hợp đều dao động dưới ngưỡng 50 đến 60 điểm. Nhóm hộ LS1 thể hiện ưu thế vượt trội về nguồn vốn tài chính và vật chất nhờ sở hữu từ 3 nguồn thu nhập trở lên (kinh doanh thương mại, chăn nuôi, trồng cây dong riềng), giá trị tài sản sinh hoạt và công cụ sản xuất cao hơn hẳn hai nhóm còn lại. Về nguồn vốn con người, trên 85% chủ hộ là nam giới, trình độ học vấn phần lớn dừng lại ở bậc trung học cơ sở, số lượng lao động qua đào tạo nghề chuyên sâu còn rất hạn chế.

Thứ tư, kết quả sinh kế đầu ra có sự phân hóa sâu sắc. Đánh giá qua 5 tiêu chí định lượng (Mức độ hài lòng, Tính đầy đủ của lương thực và thu nhập, Mức độ sung túc so với xung quanh, Mức độ sung túc so với 5 năm trước và Đánh giá địa phương đáng sống), nhóm LS1 ghi nhận tỷ lệ hộ cảm thấy đời sống cải thiện và sung túc hơn 5 năm trước đạt trên 65%, trong khi nhóm LS3 chỉ đạt dưới 40%, phản ánh tình trạng dễ bị tổn thương cao trước các biến cố thiên tai và mất mùa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ nguồn lực tại Na Rì khẳng định quy luật của các nền kinh tế vùng cao: mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng tỷ lệ nghịch với năng lực tích lũy vốn tài chính và vốn vật chất của hộ gia đình. Nhóm hộ phụ thuộc cao vào rừng (LS3) rơi vào bẫy nghèo tài nguyên do thiếu vốn đầu tư thâm canh, thiếu thông tin thị trường và hạn chế kỹ năng lao động phi nông nghiệp. Khi nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ bấp bênh và trữ lượng suy giảm, các hộ này đối mặt ngay với nguy cơ thiếu an ninh lương thực.

Trong nghiên cứu học thuật, việc trực quan hóa các nguồn vốn qua biểu đồ mạng nhện (ngũ giác sinh kế) là công cụ đắc lực giúp so sánh trực diện diện tích bao phủ giữa 3 nhóm hộ. Biểu đồ mạng nhện cho thấy hình thái nguồn lực của nhóm LS1 có xu hướng mở rộng cân đối ở các trục tài chính - vật chất - xã hội, trong khi hình thái của nhóm LS3 bị co hẹp mạnh ở trục tài chính và phình nhẹ cục bộ ở trục tiếp cận tự nhiên. Khi đối chiếu với các nghiên cứu của Babulo tại Ethiopia hay Vedeld trên quy mô toàn cầu, kết quả tại Na Rì hoàn toàn tương đồng về vai trò "lưới an sinh cứu sinh" của rừng, nhưng nhấn mạnh thêm tính cấp bách của việc hỗ trợ quyền sở hữu đất đai và vốn chuyển đổi nghề nghiệp cho đồng bào thiểu số.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng 5 nguồn vốn sinh kế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ thực hiện trong giai đoạn 2016-2020:

  • Tái cấu trúc nguồn vốn con người và chuyển giao công nghệ lâm sinh: Ủy ban nhân dân huyện Na Rì phối hợp cùng Trung tâm Khuyến nông tổ chức ít nhất 15 lớp đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững mỗi năm. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua tập huấn kỹ thuật đạt trên 80% tại các xã Văn Học và Lạng San, tập trung vào kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn (keo, lát, mỡ, trám) và thâm canh cây đặc sản bản địa trước năm 2020.

  • Đa dạng hóa nguồn vốn tài chính và hoàn thiện chuỗi giá trị nông lâm sản: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Na Rì cần mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi từ 50 triệu lên 100 triệu đồng/hộ nghèo với lãi suất hỗ trợ, giải ngân vốn vay cho 100% hộ thuộc nhóm LS2 và LS3 có nhu cầu chuyển đổi sản xuất. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân liên kết bao tiêu sản phẩm miến dong và dược liệu dưới tán rừng, nâng cao doanh thu nông nghiệp đạt trên 70 triệu đồng/ha/năm vào năm 2020.

  • Thể chế hóa quyền tiếp cận vốn tự nhiên và quản lý rừng dựa vào cộng đồng: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Na Rì cần đẩy nhanh tiến độ rà soát, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 100% diện tích rừng sản xuất còn tồn đọng (trong tổng số 42.941 ha rừng sản xuất). Ban hành cơ chế giao khoán bảo vệ rừng phòng hộ và đặc dụng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng, đảm bảo mức thu nhập bổ sung tối thiểu 3,5 - 5 triệu đồng/hộ/năm cho người dân tham gia tuần tra bảo vệ rừng.

  • Củng cố nguồn vốn xã hội và phát triển kinh tế tập thể: Hội Nông dân và Hội Phụ nữ cấp xã duy trì sinh hoạt định kỳ hàng tháng, thành lập mới ít nhất 10 tổ hợp tác và hợp tác xã chế biến nông lâm sản chất lượng cao tại các thôn vùng cao. Phấn đấu nâng tỷ lệ hộ gia đình tham gia ít nhất một đoàn thể chính trị - xã hội đạt trên 95% vào năm 2018, tạo mạng lưới tương trợ vốn vay không chính thức khi xảy ra biến cố mất mùa, đau ốm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính học thuật cao, là tài liệu tham khảo đắc lực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ thực chứng cho cán bộ Sở Nông nghiệp và PTNT, Ban Quản lý rừng phòng hộ, UBND cấp huyện và xã trong việc xây dựng đề án giao đất giao rừng, thực thi chính sách giảm nghèo bền vững theo Chương trình 135 và xây dựng nông thôn mới.

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về ứng dụng mô hình DFID, phương pháp lượng hóa ngũ giác sinh kế của B. Becher (2012) và kỹ thuật kiểm định T-test trong các đề tài nghiên cứu Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

  • Các tổ chức quốc tế và ban quản lý dự án phát triển: Là tài liệu tham khảo giá trị cho các tổ chức phi chính phủ (NGOs), cơ quan phát triển như DANIDA, GIZ, AusAID trong việc thiết kế các hợp phần can thiệp sinh kế, dự án giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng (REDD+) tại vùng Đông Bắc Việt Nam.

  • Doanh nghiệp và Hợp tác xã chế biến nông lâm nghiệp: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nắm bắt đặc điểm nhân khẩu học, tập quán lao động và năng lực cung ứng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ (dong riềng, quế, hồi, gỗ nguyên liệu) để xây dựng vùng nguyên liệu và mô hình liên kết chuỗi giá trị bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  • Khung sinh kế bền vững DFID được vận dụng đánh giá các nguồn lực nào trong đề tài? Đề tài vận dụng khung DFID (2001) để đánh giá toàn diện 5 nguồn vốn sinh kế gồm: Vốn con người (nhân khẩu, độ tuổi, học vấn, kỹ năng), Vốn tự nhiên (đất rừng, đất nông nghiệp, nguồn nước), Vốn tài chính (tiết kiệm, vay nợ, nguồn thu), Vốn vật chất (nhà ở, tư liệu sản xuất) và Vốn xã hội (tham gia đoàn thể, mạng lưới tương trợ).

  • Tiêu chí định lượng nào được sử dụng để phân loại mức độ phụ thuộc vào rừng? Nghiên cứu căn cứ vào tỷ trọng thu nhập từ rừng trên tổng thu nhập hộ gia đình theo chuẩn Babulo (2008) để chia 130 hộ thành 3 nhóm: Phụ thuộc ít (LS1: tỷ trọng thu nhập từ rừng dưới hoặc bằng 20%), Phụ thuộc vừa phải (LS2: tỷ trọng từ trên 20% đến 40%) và Phụ thuộc nhiều (LS3: tỷ trọng thu nhập từ rừng vượt trên 40%).

  • Vì sao nhóm hộ ít phụ thuộc vào rừng lại sở hữu diện tích đất rừng lớn hơn nhóm phụ thuộc nhiều? Trong thực tế tại Na Rì, nguồn thu của nhóm phụ thuộc nhiều (LS3) chủ yếu đến từ việc thu hái tự do các loại lâm sản ngoài gỗ (măng, mộc nhĩ, nấm hương) tại các cánh rừng tự nhiên gần nhà. Trong khi đó, nhóm LS1 có tiềm lực tài chính mạnh nên đã chủ động nhận đất, đầu tư vốn trồng rừng gỗ lớn thương phẩm gắn với quyền sử dụng đất hợp pháp.

  • Kết quả sinh kế của hộ gia đình được đo lường qua những tiêu chí cụ thể nào? Kết quả sinh kế được lượng hóa qua 5 chỉ tiêu: Mức độ hài lòng với cuộc sống trong 12 tháng qua, Tính đầy đủ của lương thực và thu nhập, Mức độ sung túc so với các hộ xung quanh, Mức độ sung túc so với 5 năm trước và Cảm nhận về địa phương là nơi đáng sống, phân chia theo các thang điểm từ 1 đến 5.

  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu điều tra của luận văn được xác định ra sao? Tác giả áp dụng công thức Slovin (1960) với tổng thể 1.058 hộ và sai số 10%, xác định cỡ mẫu lý thuyết là 91 hộ. Trên thực tế, nghiên cứu điều tra toàn bộ 130 hộ dân sinh sống tại 6 thôn vùng cao thuộc 2 xã đại diện là Văn Học (67 hộ) và Lạng San (63 hộ) nhằm đảm bảo tính bao quát và độ chính xác cao nhất cho các phân tích thống kê.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và vận dụng thành công khung sinh kế bền vững DFID vào việc đánh giá thực trạng phân bổ 5 nguồn lực sinh kế của 130 hộ dân tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
  • Kiểm định T-test đã chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tích lũy vốn tài chính, vốn vật chất và kết quả sinh kế giữa nhóm phụ thuộc ít (LS1), vừa phải (LS2) và phụ thuộc nhiều vào rừng (LS3).
  • Phát hiện nghịch lý về quyền sở hữu đất lâm nghiệp của nhóm LS1 so với tập quán khai thác lâm sản ngoài gỗ của nhóm LS3 là đóng góp khoa học mới, có giá trị thực tiễn cao cho công tác quản lý tài nguyên.
  • Lộ trình giải pháp giai đoạn 2016-2020 đặt trọng tâm vào đào tạo nghề cho trên 80% lao động, hoàn thiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng và hỗ trợ vốn vay tín dụng ưu đãi 100 triệu đồng/hộ.
  • Độc giả, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể khai thác trực tiếp cơ sở dữ liệu và khung phân tích chuyên sâu của luận văn để ứng dụng hiệu quả vào các chương trình phát triển nông thôn bền vững.