Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại nông sản bảo quản trong kho tại huyện Hoằng Hóa

Nghiên cứu chi tiết thành phần các loài sâu mọt hại nông sản, cá khô, thuốc bắc bảo quản tại kho ở huyện Hoằng Hóa và mức độ thiệt hại của chúng.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2009

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng của nghiên cứu sâu mọt hại nông sản kho tại Hoằng Hóa

Sâu mọt hại nông sản kho là một trong những vấn đề lớn nhất ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất nông sản bảo quản. Tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, các loại kho bảo quản nông sản, cá khô và thuốc bắc thường xuyên bị sâu mọt xâm nhập, gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể. Nghiên cứu thực nghiệm này được thực hiện tại các xã Hoằng Phụ, Hoằng Anh và thị trấn Bút Sơn, nhằm xác định thành phần loài côn trùng hại kho, mức độ phổ biến và đặc điểm sinh học của chúng. Việc hiểu rõ về sâu mọt trong kho bảo quản sẽ giúp nông dân và các hộ kinh doanh lương thực phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả, bảo vệ sản phẩm nông sản và nâng cao giá trị kinh tế.

1.1. Vấn đề hại nông sản bảo quản trong kho

Nông sản bảo quản trong kho dễ bị tấn công bởi nhiều loài sâu mọt gây hại. Các kho nông sản, đặc biệt là những kho không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, thường trở thành môi trường lý tưởng cho côn trùng hại kho phát triển. Mọt đục hạt, mọt gạo, và mọt thóc đỏ là những loài sâu mọt phổ biến gây thiệt hại lớn.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài tại địa phương

Nghiên cứu sâu mọt hại nông sản kho tại Hoằng Hóa cung cấp dữ liệu quý báu về thành phần loài côn trùng, phân bố và biến động mật độ quần thể sâu mọt theo mùa. Kết quả này giúp các hộ kinh doanh lương thực địa phương phát triển kế hoạch phòng trừ khoa học, giảm thiệt hại và tăng hiệu quả bảo quản sản phẩm.

II. Thành phần loài và đặc điểm sinh học sâu mọt hại kho

Nghiên cứu thực nghiệm tại các kho bảo quản nông sản ở huyện Hoằng Hóa đã xác định được thành phần loài sâu mọt gây hại nông sản, cá khô và thuốc bắc. Các loài côn trùng hại kho chính bao gồm mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica), mọt gạo (Sitophilus oryzae), mọt thóc đỏ (Tribolium castaneum) và mọt thóc lớn (Tenebroides mauritanicus). Mỗi loài có đặc điểm sinh học riêng, vòng đời khác nhau và khả năng thích ứng với điều kiện bảo quản khác nhau. Mật độ quần thể sâu mọt thay đổi theo mùa, với đỉnh cao vào các tháng ấm và ẩm ướt. Ngoài ra, thiên địch sâu mọt như các loài côn trùng ăn thịt, ký sinh cũng được phát hiện trong các kho, có vai trò quan trọng trong kiểm soát tự nhiên quần thể sâu mọt hại nông sản.

2.1. Các loài mọt phổ biến trong kho bảo quản

Mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica) là loài sâu mọt hại kho phổ biến nhất, xâm nhập vào bên trong hạt và gây hư hỏng toàn bộ. Mọt gạo (Sitophilus oryzae) chuyên hại các loại lúa, gạo với mật độ quần thể tăng nhanh. Mọt thóc đỏ (Tribolium castaneum) gây hại bề mặt sản phẩm và có vòng đời ngắn.

2.2. Đặc điểm sinh học mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus

Mọt thóc lớncôn trùng hại kho với vòng đời khoảng 60-80 ngày tùy điều kiện. Nghiên cứu đặc điểm hình tháiđặc điểm sinh học cho thấy nó thích hợp môi trường ấm, ẩm. Phát hiện biến động mật độ quần thể giúp dự báo nguy hiểm sâu mọt hại nông sản.

III. Thiệt hại nông sản do sâu mọt gây ra

Sâu mọt hại nông sản kho gây ra thiệt hại đáng kể cho chất lượng và giá trị sản phẩm. Các loài côn trùng hại kho chính như mọt đục hạt và mọt gạo xâm nhập vào bên trong hạt, gây ra lỗ thủng và hư hỏng cấu trúc, làm giảm năng lượng và giá trị dinh dưỡng. Mật độ sâu mọt cao dẫn đến hao hụt khối lượng sản phẩm, sinh ra bụi và các chất bẩn. Ngoài ra, sâu mọt trong kho bảo quản tiết ra nước làm tăng độ ẩm, khuyến khích sự phát triển của nấm mốc và vi khuẩn, làm sản phẩm bị mốc. Thiệt hại này không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các hộ kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến an ninh lương thực của cộng đồng. Nghiên cứu thiệt hại nông sản tại Hoằng Hóa chỉ ra nhu cầu cấp thiết xây dựng biện pháp phòng trừ sâu mọt hiệu quả.

3.1. Mức độ hư hỏng sản phẩm nông sản

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy sâu mọt gây hại nông sản với tốc độ khác nhau tùy loài. Mọt đục hạt nhỏ gây hủy hoại 20-40% sản phẩm trong 3-4 tháng. Thiệt hại nông sản bao gồm mất khối lượng, giảm chất lượng hạt và tăng mật độ côn trùng làm sản phẩm không bán được.

3.2. Ảnh hưởng đến chất lượng bảo quản

Sâu mọt trong kho làm tăng độ ẩm, sinh nhiệt, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển. Sản phẩm bị hại bởi sâu mọt mất giá trị thương mại, không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập nông dân.

IV. Biện pháp quản lý và kiểm soát sâu mọt hại kho

Dựa trên kết quả nghiên cứu sâu mọt hại nông sản kho tại huyện Hoằng Hóa, có thể xây dựng các biện pháp quản lý tổng hợp hiệu quả. Trước tiên, cần đảm bảo điều kiện bảo quản nông sản tối ưu như kiểm soát nhiệt độ (dưới 15°C) và độ ẩm (dưới 65%), giảm mật độ côn trùng tự nhiên. Thứ hai, áp dụng các biện pháp vệ sinh kho bảo quản, làm sạch kho trước khi đợ hàng mới. Thứ ba, sử dụng thiên địch tự nhiên của sâu mọt như các loài côn trùng ký sinh để kiểm soát quần thể. Ngoài ra, có thể sử dụng các phương pháp vật lý như lưới chắn, xử lý nhiệt, hoặc các sản phẩm sinh học an toàn. Theo dõi biến động mật độ quần thể sâu mọt định kỳ giúp phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Các hộ kinh doanh lương thực tại địa phương cần được tập huấn về phòng trừ sâu mọt khoa học để bảo vệ sản phẩm.

4.1. Quản lý điều kiện bảo quản phòng chống sâu mọt

Kiểm soát điều kiện bảo quản nông sản là yếu tố chính giảm mật độ sâu mọt. Duy trì nhiệt độ thấp (dưới 15°C) làm chậm vòng đời sâu mọt, giảm mật độ quần thể. Độ ẩm dưới 65% làm sâu mọt hại kho không thể phát triển. Kiểm soát ánh sáng, thông thoáng cũng quan trọng.

4.2. Ứng dụng thiên địch tự nhiên và biện pháp sinh học

Kết quả nghiên cứu thiên địch của sâu mọt cho thấy các loài côn trùng ăn thịtký sinh sâu mọt có hiệu quả cao. Sử dụng biện pháp sinh học giảm mật độ sâu mọt hại nông sản an toàn, không ô nhiễm, bảo vệ chất lượng sản phẩm kho bảo quản.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài Trong khi chúng ta nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn để phấn đấu cho những mùa vụ bội thu ở giai đoạn trước thu hoạch thì đôi khi lại quên đi những mất mát xảy ra ở giai đoạn sau thu hoạch. Những con số thống kê cho thấy, thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại và điều kiện bất thuận gây ra cho sản xuất nông nghiệp được đánh giá vào khoảng 30% tổng sản lượng lương thực thu được của ngành Trồng trọt. Con số thiệt hại này thay đổi tùy theo điều kiện và trình độ sản xuất ở từng địa phương.

Ở các vùng nhiệt đới, tỷ lệ mất mát còn cao hơn con số đã nêu trên đây. Riêng các loại sâu bệnh hại nông sản trong kho hàng năm gây tổn thất vào khoảng 10% khối lượng nông sản cất giữ. Ở nhiều nước nhiệt đới số thiệt hại này lên đến 20%. Nước ta là một nước nông nghiệp, với khoảng 75% dân số sống bằng nông nghiệp và nông thôn.

Khí hậu nước ta có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, song cũng tạo điều kiện tốt để sâu hại phát sinh, phát triển và phá hoại nghiêm trọng cây trồng trên đồng ruộng, đồng thời tiếp tục gây hại sản phẩm cất giữ trong kho. Hầu như toàn bộ tiềm năng vật chất và tinh thần của con người đều được dự trữ trong kho, như các kho dự trữ lương thực, thực phẩm nông sản, hải sản, lâm sản, hàng tiêu dùng, dược liệu và hạt giống; hay các kho lưu trữ, sách báo, thư viện, tài liệu, hồ sơ, bảo tàng. Với một khối lượng sản phẩm lớn và đa dạng như vậy thì công việc bảo quản hàng hóa trong kho là hết sức quan trọng. Thiệt hại trên các loại hạt trong kho do sâu hại và các đối tượng khác ở các nước đang phát triển vào khoảng trên 30% (Throne & Eubanks, 2002).

Theo FAO (1999), hàng năm trên thế giới mức tổn thất về lương thực trong bảo quản trung bình từ 6 - 10%. Ở Việt Nam mức tổn thất này từ 8 - 15%, riêng ở đồng bằng Sông Cửu Long khoảng 18% (Bộ môn Nghiên cứu Côn trùng, Tổng cục Lương thực Việt Nam, 200-). Tổn thất sau thu hoạch đối với lúa gạo của Việt 12 Nam được liệt vào loại cao nhất Châu Á, dao động trong khoảng 15 - 20%/năm tùy theo từng khu vực và mùa vụ. Với tỷ lệ tổn thất này, chúng ta bị mất khoảng 100 triệu USD mỗi năm, số tiền lớn hơn tổng thu ngân sách trên địa bàn nhiều tỉnh [40].

Tổn thất do côn trùng gây ra cho ngũ cốc bảo quản trong kho là 10% (Dẫn theo Lê Doãn Diên, 1995) [13]. Thóc bảo quản hàng năm hao hụt khoảng 4 - 8%, một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên sự hao hụt này là sâu mọt hại nông sản trong kho (Dẫn theo Nguyễn Quang Hiếu và cs. Dự trữ lương thực là quốc sách của mỗi quốc gia. Công việc này càng quan trọng hơn đối với nước ta, vì hàng năm thiên tai gây hại rất lớn cho nông nghiệp.

Tuy nhiên, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều ở nước ta cũng như ở Thanh Hóa, sự thiệt hại cả về chất lượng cũng như số lượng của nông sản nói chung và lương thực nói riêng còn khá cao. Theo báo cáo tổng kết công tác điều tra kho năm 1990 của Cục Bảo vệ thực vật, hàng năm nước ta thiệt hại trung bình 15% tính ra hàng vạn tấn lương thực bỏ đi có thể nuôi sống hàng triệu người. Mặt khác, số lượng nông sản nhập khẩu vào Thanh Hóa hàng năm cũng khá lớn, nên khả năng du nhập và lây lan của các loài dịch hại nông sản theo hàng hóa, phương tiện vận chuyển là khá cao. Do đó, vấn đề đặt ra cho công tác dự trữ, bảo quản thóc gạo trong kho là hết sức quan trọng mang tính chiến lược quốc gia.

Hiện nay, trên thế giới tất cả các quốc gia đều coi trọng công tác bảo quản cất trữ sản phẩm, vì tác hại của sâu mọt trong kho là rất lớn chỉ tính riêng một loại mọt gạo (Sitohilus oryzae L.) nó đã phân bố khắp toàn cầu, gây hại kho lương thực đặc biệt là kho chứa thóc, gạo, ngô (Dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [2]. Sâu mọt không những trực tiếp làm thiệt hại về số lượng nông sản, làm giảm chất lượng, giảm giá trị thương phẩm, gây mùi khó chịu, màu sắc không bình thường mà còn là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng hay động vật khi sử dụng nông sản. Do tác hại lớn như vậy nên điều cần 13 thiết đặt ra cho những người làm công tác bảo quản là phải tìm ra những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và hạn chế sự phá hại của sâu mọt gây ra một cách có hiệu quả nhất. Cùng với các loài sâu mọt hại kho, những loài kẻ thù tự nhiên luôn có mặt trong hệ sinh thái kho tàng.

Chúng có nhiều tiềm năng trong biện pháp sinh học phòng trừ dịch hại kho. Những nghiên cứu về sâu hại cây trồng cũng như việc sử dụng thiên địch (ký sinh, ăn thịt) để phòng trừ chúng là rất phong phú, nghiên cứu điển hình về côn trùng ký sinh sâu cánh vảy hại lúa ở Việt Nam có Vũ Quang Côn (2007), thiên địch của sâu hại lúa ở Nghệ An có Trần Ngọc Lân (2000),… nhưng về sâu mọt hại kho và thiên địch của chúng thì chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều. Trong các loài sâu mọt hại kho, mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus Linnaeus được đánh giá là một trong các loài côn trùng kho nguy hiểm và gây hại nghiêm trọng nhất. Nó là nhóm ăn hại thời kỳ đầu, là một trong những loài sâu hại có khả năng đục phá, ăn hại các sản phẩm còn nguyên vẹn, làm cho sản phẩm bị vỡ nát, rỗng ruột, tổn thương.

Sự phá hại do nó gây ra rất lớn, ngoài ra nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho sâu hại thời kỳ sau phá hại. Nó không những ăn hại được sản phẩm còn nguyên vẹn, mà còn ăn hại được sản phẩm đã gãy nát, sản phẩm đã quá mục nát nó cũng ăn hại được. Tuy nhiên, theo những nghiên cứu của Vũ Quốc Trung (1978), thì nó còn là loài côn trùng ăn thịt, nó có thể tiêu diệt các ấu trùng của những loài mọt khác trong kho. Vì vậy, Tenebroides mauritanicus Linn.

cũng có thể được xem là thiên địch trong kho. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, nhằm góp phần điều tra về thành phần loài sâu mọt và côn trùng ăn thịt của chúng, cũng như tìm hiểu thêm về sinh học của Tenebroides mauritanicus Linn. phục vụ công tác bảo quản nông sản, thực phẩm, dược liệu ở Thanh Hóa, chúng tôi thực hiện đề tài ”Thành phần sâu mọt hại nông sản bảo quản trong kho ở huyện Hoằng Hoá”. Mục đích nghiên cứu 14 Trên cơ sở điều tra nghiên cứu thành phần sâu mọt hại nông sản, thực phẩm, dược liệu và côn trùng ăn thịt, ký sinh của chúng nhằm xác định được đặc điểm sinh học sinh thái của mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus Linn., đóng góp dẫn liệu làm cơ sở cho việc phát hiện kịp thời các đối tượng dịch hại kiểm dịch thực vật và phòng trừ sâu mọt hại kho lương thực, thực phầm, dược liệu ở tỉnh Thanh Hóa.

Phạm vi, nội dung và đối tƣợng nghiên cứu * Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung điều tra nghiên cứu thành phần loài sâu mọt ở tất cả các loại kho bảo quản nông sản (lương thực, thức ăn gia súc, dược liệu, cá khô); và đi sâu nghiên cứu thực nghiệm xác định đặc điểm sinh học của một loài mọt là mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus Linn. Nghiên cứu sâu mọt hại kho tại các kho kinh doanh lương thực, thực phẩm, dược liệu ở các xã, thị trấn tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. * Nội dung nghiên cứu (1) Điều tra thống kê thành phần loài và sự phân bố của sâu mọt hại các loại nông sản, thực phẩm, dược liệu bảo quản trong kho ở huyện Hoằng Hoá. (2) Đánh giá khả năng gây hại nông sản của một số loài sâu mọt chính bằng các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm.

(3) Điều tra thành phần thiên địch của sâu mọt gây hại các loại nông sản, thực phẩm, dược liệu bảo quản trong kho ở huyện Hoằng Hoá. (4) Diễn biến số lượng của sâu mọt chính trong các kho nông sản, thực phẩm, dược liệu. (5) Xác định sự sinh trưởng và vòng đời mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus Linnaeus. * Đối tƣợng nghiên cứu - Sâu mọt hại kho - Các loài thiên địch ăn thịt, kí sinh của sâu mọt hại kho - Các loại kho: kho nông sản, cá khô, thuốc bắc.

15 - Mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Trên cơ sở điều tra thành phần loài sâu mọt hại nông sản, thực phẩm, dược liệu ở các hộ kinh doanh, để từ đó đánh giá sự đa dạng sinh học trong hệ sinh thái kho tàng, xác định danh mục dịch hại, góp phần trong công tác bảo quản lương thực, thực phẩm, dược liệu cất giữ trong kho ở huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đồng thời đánh giá được mức độ gây hại và tính ưu việt của mọt thóc lớn khi nghiên cứu đặc điểm sinh học, góp dẫn liệu khi nghiên cứu thiên địch phòng trừ dịch hại kho. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.

Côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho * Côn trùng hại kho Trong quá trình phát triển xã hội, bảo quản tốt các sản phẩm do lao động làm ra là mặt thứ hai của quá trình sản xuất và sáng tạo của con người. Nó vừa giải quyết trực tiếp những nhu cầu cho xã hội, vừa tạo ra những khả năng tích cực để nâng cao quá trình sản xuất tiếp theo. Hàng hóa dự trữ trong kho được quan tâm trước hết là các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp sau một vụ thu hoạch, được cất trữ lại hoặc là các sản phẩm được chế biến từ chúng rồi được dự trữ để sử dụng vào các nhu cầu của xã hội như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, chữa bệnh. Hàng hoá dự trữ cũng là các sản phẩm công nghiệp, thủ công nghiệp như hàng dệt, hàng da, mây tre, sản phẩm giấy, thuốc lá.

Ngoài ra, còn phải kể đến việc dự trữ hạt giống cho các vụ tiếp theo. Đặc điểm chung của hàng dự trữ là việc cất giữ trong kho theo những khoảng thời gian nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ