Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu ngôn ngữ học chỉ ra rằng hoạt động giao tiếp hàng ngày chiếm tới 75% thời lượng dành cho nghe và nói, trong đó nghe chiếm khoảng 45%, nói chiếm khoảng 30%, còn việc đọc và viết chỉ chiếm xấp xỉ 25%. Dù vậy, tại địa bàn miền núi như tỉnh Lào Cai, việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2 người dân tộc thiểu số, đang đối mặt với nhiều rào cản do vốn từ ngữ hạn hẹp và môi trường tương tác tiếng Việt còn thu hẹp. Khi triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 với bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống vào năm học 2021-2022, nội dung nói và nghe dù chiếm 10% thời lượng chương trình nhưng nhiều thầy cô giáo vẫn tỏ ra lúng túng trong việc tìm kiếm phương pháp truyền đạt phù hợp.

Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Diệu Thùy hoàn thành năm 2022 hướng tới việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng năng lực giao tiếp của học sinh và hoạt động tổ chức dạy học của 25 giáo viên tại tỉnh Lào Cai. Từ việc nhận diện những hạn chế thực tế, luận văn đề xuất quy trình sư phạm chuẩn mực và hệ thống bài tập rèn luyện khẩu ngữ bám sát đặc thù tâm lý, ngôn ngữ của học sinh vùng cao.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trong năm học 2021-2022 tại 3 cơ sở giáo dục tiêu biểu gồm Trường Tiểu học Lê Văn Tám thuộc thành phố Lào Cai, Trường Tiểu học Trung Lèng Hồ thuộc huyện Bát Xát và Trường Tiểu học Sa Pa thuộc thị xã Sa Pa. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần tháo gỡ khó khăn sư phạm, nâng cao tỷ lệ tương tác tích cực của học sinh lên trên 80% trong các tiết học nói và nghe, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện 4 kĩ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc, viết cho học sinh các lớp tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của các nhà tâm lý học lỗi lạc như Lev Vygotsky và Aleksei Leontiev. Quan điểm này khẳng định giao tiếp là sự tương tác có mục đích và động cơ xã hội sâu sắc, là con đường then chốt để hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách trẻ em. Trong phương pháp dạy học tiếng Việt, luận văn kế thừa sâu sắc định hướng giao tiếp của các nhà nghiên cứu hàng đầu như Lê A và Lê Phương Nga: dạy học tiếng Việt là dạy một hoạt động giao tiếp, được tiến hành trong giao tiếp và bằng chính phương tiện giao tiếp. Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết dạy học tích hợp theo chiều ngang qua các trục chủ điểm và tích hợp theo chiều dọc theo nguyên tắc đồng tâm của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Khung lý thuyết của luận văn làm rõ 4 khái niệm chuyên ngành cốt lõi:

  1. Kĩ năng nói: khả năng tạo lập ngôn bản âm thanh rõ ràng, mạch lạc nhằm truyền tải thông tin, kết hợp hiệu quả với các yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, cử chỉ và nét mặt.
  2. Kĩ năng nghe: quá trình tri giác, tiếp nhận, xử lý âm thanh tác động vào thính giác để thấu hiểu chính xác nội dung và thái độ của người nói.
  3. Kĩ năng nói nghe tương tác: năng lực duy trì cuộc thoại qua cơ chế luân phiên lượt lời, biết lắng nghe, tôn trọng sự khác biệt và phản hồi văn minh trong làm việc nhóm.
  4. Nhân tố giao tiếp: hệ thống các yếu tố cấu thành bao gồm mục đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, hiện thực được nói tới và sản phẩm ngôn bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu khảo sát thực trạng gồm 25 giáo viên trực tiếp giảng dạy khối lớp 2 cùng toàn thể học sinh tại 3 trường tiểu học đại diện cho các vùng sinh thái giáo dục tại Lào Cai: khu vực đô thị trung tâm (Trường Tiểu học Lê Văn Tám), khu vực vùng cao đặc biệt khó khăn (Trường Tiểu học Trung Lèng Hồ) và vùng du lịch đa văn hóa (Trường Tiểu học Sa Pa).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả học sinh người Kinh và học sinh dân tộc thiểu số như H'Mông, Dao, Giáy. Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ phương pháp định lượng và phương pháp định tính. Phương pháp định lượng xử lý số liệu bảng hỏi điều tra của 25 giáo viên, trong khi phương pháp định tính tiến hành qua quan sát sư phạm trực tiếp tại các tiết học và phỏng vấn sâu chuyên môn. Lý do lựa chọn kết hợp hai phương pháp này là nhằm đối chiếu chéo thông tin giữa nhận thức của giáo viên và biểu hiện thực tế của học sinh, đảm bảo kết quả đánh giá mang tính khách quan và chỉ ra đúng căn nguyên của các rào cản giao tiếp. Tiến trình nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm được tiến hành xuyên suốt trong năm học 2021-2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 3 trường tiểu học tỉnh Lào Cai mang lại những phát hiện quan trọng về thực trạng dạy và học kĩ năng nghe nói:

Thứ nhất, về nhận thức và thái độ của giáo viên: Có 68% giáo viên (tương ứng 17 trên tổng số 25 người được khảo sát) thể hiện sự hào hứng với nội dung rèn kĩ năng nói và nghe vì đây là điểm mới tích cực của chương trình. Ngược lại, vẫn còn 24% giáo viên (tương ứng 6 trên 25 người) chưa thích dạy nội dung này do thói quen giảng dạy truyền thống, và 8% giáo viên (2 người) giữ thái độ trung lập, chỉ dạy đúng theo sách giáo khoa mà không có sự sáng tạo bổ sung.

Thứ hai, về phương pháp tổ chức giờ học: Có khoảng 72% tiết học rèn kĩ năng nói và nghe diễn ra theo một công thức đơn điệu: giáo viên nêu yêu cầu bài tập, gọi một vài cá nhân trả lời, sau đó nhận xét và kết luận. Khoảng 80% giáo viên chưa chú trọng rèn luyện kĩ năng kèm lời như ánh mắt, nét mặt và cử chỉ khi nói chuyện.

Thứ ba, về năng lực khẩu ngữ của học sinh: Tại các địa bàn vùng cao như Si Ma Cai hay Sa Pa, học sinh lớp 2 mắc lỗi không xác định đúng vai giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp lên đến khoảng 62%. Có tới hơn 55% học sinh dân tộc thiểu số phát âm nhầm lẫn, nói câu rời rạc và gặp nhiều khó khăn khi vận dụng các nghi thức lời nói thông thường như cảm ơn, xin lỗi hoặc đưa ra lời đề nghị lịch sự.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên bắt nguồn từ đặc điểm tâm lý lứa tuổi 7-8 tuổi, khi tư duy trực quan hình tượng vẫn chiếm ưu thế và khả năng điều khiển sự chú ý chủ định chưa bền vững. Đối với học sinh dân tộc thiểu số tại Lào Cai, rào cản song ngữ là thách thức lớn nhất khi tiếng Việt chỉ được sử dụng chủ yếu tại trường học. Ngoài ra, việc phân bổ thời lượng 10% cho mạch nói và nghe khiến nhiều giáo viên có tâm lý xem nhẹ, ưu tiên thời gian cho các bài tập đọc, chính tả và viết đoạn văn.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của tác giả Phan Thiều hay luận án của tác giả Ngô Hiền Tuyên năm 2013, kết quả này khẳng định khó khăn trong phát triển khẩu ngữ ở học sinh đầu cấp tiểu học là hiện tượng phổ biến, đặc biệt trầm trọng hơn ở các vùng miền núi.

Để minh họa trực quan cho các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thái độ của giáo viên (68% yêu thích, 24% không thích, 8% trung lập). Bên cạnh đó, việc sử dụng bảng đối chiếu 4 nhóm lỗi phổ biến của học sinh và biểu đồ cột so sánh kết quả trước và sau can thiệp thực nghiệm sư phạm sẽ làm nổi bật tính hiệu quả của đề tài: tỷ lệ học sinh đạt mức độ giao tiếp lưu loát, tự tin đã tăng từ 32% lên trên 78% sau khi áp dụng quy trình bài tập mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 giải pháp mang tính hành động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng rèn kĩ năng giao tiếp:

  1. Xây dựng và vận dụng hệ thống bài tập giao tiếp đa dạng: Giáo viên trực tiếp đứng lớp 2 cần phân loại và thiết kế 3 nhóm bài tập thực hành gồm bài tập kể chuyện theo tranh gợi ý, bài tập nói theo chủ điểm đời sống và bài tập thực hành nghi thức lời nói. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt kĩ năng nói và nghe lên trên 85% trong năm học tiếp theo, triển khai đồng bộ ngay từ đầu học kỳ I.
  2. Tổ chức dạy học qua hoạt động nhóm và trò chơi sắm vai: Ban giám hiệu các nhà trường chỉ đạo giáo viên áp dụng hình thức thảo luận nhóm nhỏ từ 2 đến 4 học sinh và phương pháp đóng vai xử lý tình huống trong 100% tiết luyện nói và nghe. Biện pháp này hướng tới giảm tỷ lệ học sinh rụt rè, sợ nói xuống dưới 15% sau chu kỳ 6 tháng áp dụng liên tục.
  3. Tập huấn nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai cùng Phòng Giáo dục các huyện Bát Xát, Si Ma Cai và thị xã Sa Pa tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học giao tiếp với định kỳ 3 tháng một lần, đảm bảo 100% giáo viên lớp 2 nắm vững kĩ thuật chuyển giao nhiệm vụ giao tiếp mở cho học sinh.
  4. Tăng cường đầu tư thiết bị và phương tiện trực quan: Ủy ban nhân dân các địa phương và nhà trường cần ưu tiên bố trí nguồn kinh phí trang bị thêm tranh ảnh màu cỡ lớn, loa nghe và học liệu đa phương tiện cho ít nhất 90% phòng học lớp 2 trong giai đoạn 2022-2025, tạo môi trường trực quan kích thích hứng thú nói của học sinh dân tộc thiểu số.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính trong ngành giáo dục:

  1. Giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 2: Thầy cô có thể sử dụng trọn vẹn quy trình rèn luyện khẩu ngữ và hệ thống giáo án mẫu để đổi mới phương pháp giảng dạy trong 100% tiết học môn Tiếng Việt, giúp giờ học sinh động và gần gũi với cuộc sống.
  2. Cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn tiểu học: Nắm bắt số liệu thực trạng tại 3 vùng sinh thái giáo dục của tỉnh Lào Cai, từ đó xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá tiết dạy nói và nghe theo đúng chuẩn yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  3. Sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học và học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học: Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh và phương pháp luận khảo sát mẫu mực, phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện các khóa luận tốt nghiệp hoặc đề tài nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ.
  4. Tác giả biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giáo dục địa phương: Nhận được nguồn tư liệu thực chứng quý báu về đặc điểm ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, hỗ trợ việc thiết kế các ngữ liệu và bài tập giao tiếp phù hợp với thực tiễn vùng khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao kĩ năng nghe và nói cần được ưu tiên hàng đầu ở lớp 2?

Các khảo sát ngôn ngữ học chỉ ra rằng hoạt động nghe và nói chiếm tới 75% nhu cầu giao tiếp xã hội hàng ngày (nghe 45%, nói 30%). Đối với trẻ 7-8 tuổi, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, kĩ năng khẩu ngữ là nền tảng cốt lõi giúp các em tiếp nhận thông tin, phát triển tư duy logic và tạo tiền đề để đọc thông, viết thạo trong môn Tiếng Việt.

Học sinh lớp 2 tại Lào Cai thường mắc những lỗi giao tiếp cụ thể nào?

Khảo sát tại 3 trường tiểu học cho thấy trên 55% học sinh gặp lỗi phát âm lệch chuẩn, dùng câu cụt, thiếu chủ ngữ vị ngữ và lúng túng khi thực hiện các nghi thức xã giao. Nhiều em chưa biết kết hợp cử chỉ, nét mặt phù hợp hoặc không dám nhìn vào mắt người đối thoại do thói quen e ngại, tự ti.

Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống có điểm gì mới về nội dung luyện nói và nghe?

Bộ sách đã tách biệt nội dung nói và nghe thành các bài học độc lập, chiếm khoảng 10% thời lượng môn Tiếng Việt. Hệ thống bài học được thiết kế theo chủ điểm gần gũi với đời sống, sử dụng kênh hình in màu phong phú và lồng ghép nhiều câu hỏi mở để khích lệ học sinh tự do bộc lộ cảm xúc cá nhân.

Giáo viên cần làm gì để học sinh dân tộc thiểu số mạnh dạn tham gia luyện nói?

Giáo viên cần đưa các tình huống thực tế của bản làng vào bài học, tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm đôi và tham gia trò chơi sắm vai. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng khi được học trong môi trường thân thiện và có sự trợ giúp của tranh ảnh trực quan, tỷ lệ học sinh tích cực phát biểu tăng từ 35% lên hơn 70%.

Luận văn đề xuất những dạng bài tập rèn kĩ năng giao tiếp cụ thể nào?

Tác giả xây dựng hệ thống gồm 3 dạng bài tập chính: bài tập kể chuyện theo tranh minh họa, bài tập trao đổi theo các chủ điểm quen thuộc và bài tập thực hành nghi thức giao tiếp hàng ngày như cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi, giúp học sinh luyện tập thường xuyên trong 100% tình huống thực tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Khảo sát phản ánh trung thực thực trạng nhận thức của 25 giáo viên và các lỗi khẩu ngữ phổ biến của học sinh vùng cao Lào Cai.
  • Đề xuất thành công quy trình dạy học tích cực và hệ thống 3 nhóm bài tập thực hành bám sát năng lực học sinh lớp 2.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi vượt trội, nâng tỷ lệ học sinh giao tiếp tự tin từ 32% lên trên 78%.
  • Đưa ra hệ thống khuyến nghị đồng bộ cho 4 cấp độ quản lý và thực thi sư phạm tại địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn do tác giả Nguyễn Diệu Thùy thực hiện là mang lại bộ giải pháp sư phạm hoàn chỉnh, gắn kết lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ với thực tế giảng dạy môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học miền núi. Trong lộ trình 12 tháng tới, các nhà trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai cần tích cực nhân rộng mô hình thực nghiệm này vào sinh hoạt chuyên môn định kỳ. Các thầy cô giáo và nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để ứng dụng ngay hệ thống bài tập thực hành giá trị này vào từng giờ học, giúp 100% học sinh tự tin làm chủ ngôn ngữ giao tiếp mỗi ngày.