phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ cái viết tắt và bảng biểu, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về sử dụng hệ thống rào cản thƣơng mại Chƣơng 2: Chính sách rào cản thƣơng mại của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Chƣơng 3: Quan điểm định hƣớng và những giải cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách rào cản thƣơng mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam - CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƢƠNG MẠI 1. Lý luận chung về rào cản thƣơng mại 1. Khái niệm Rào cản thương mại quốc tế xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, với các biện pháp rất đa dạng và tinh vi. Có biện pháp tại biên giới, có biện pháp đằng sau biên giới; có biện pháp thuế quan và phi thuế quan; có biện pháp môi trường và vệ sinh dịch tễ; có biện pháp tự vệ đặc biệt và biện pháp tự vệ mang tính tạm thời; có biện pháp chung và biện pháp mang tính chuyên ngành; có những biện pháp đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; có những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại.
Thuật ngữ rào cản thương mại (Barriers to trade) được đề cập chính thức trong một hiệp định của WTO, đó là Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade). Trong Hiệp định này, khái niệm rào cản không được định danh một cách chính thống, mà được thừa nhận như một thoả thuận rằng: “không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hoá xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của hiệp định này”. Do đó, theo cách hiểu chung nhất thì rào cản thương mại là bất kỳ biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế. Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành rào cản thƣơng mại Rào cản thương mại sẽ đem lại lợi ích cho một nhóm người nhất định nào đó, tuy rằng có thể gây thiệt hại cho một nhóm người khác và thậm chí - gây thiệt hại về tổng thể cho một quốc gia.
Chính vì sự liên quan tới lợi ích của từng nhóm người khác nhau như vậy nên sự hình thành các loại rào cản cũng liên quan mật thiết với từng nhóm người này cũng như khả năng tác động của họ tới chính sách của Nhà nước. Xét trên khía cạnh này, ta thấy nguồn gốc hình thành các loại rào cản trong thương mại quốc tế có thể xuất phát từ một trong 3 chủ thể sau: 1. Từ phía Doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp của bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào cũng muốn được Nhà nước bảo hộ, để hạn chế được sự cạnh tranh của nước ngoài, củng cố vị trí của mình trên thị trường và có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn. Xuất phát từ lợi ích đó, các doanh nghiệp sẽ tập hợp nhau dưới danh nghĩa Hiệp hội ngành nghề để tiến hành vận động hành lang đối với Chính phủ, nhằm tác động Chính phủ đưa ra các chính sách rào cản thương mại có lợi cho mình.
Các tác động từ phía doanh nghiệp hết sức mạnh mẽ và có tổ chức, với rất nhiều hình thức khác nhau. Trong nhiều trường hợp, với khả năng tài chính của mình, các doanh nghiệp có khả năng tác động rất lớn tới Nhà nước, thông qua các biện pháp tiêu cực. Hoặc nếu không họ sẽ vin vào những lý do có vẻ như rất chính đáng như: ngành công nghiệp non trẻ cần phải được bảo hộ, ngành sản xuất có liên quan đến việc làm của nhiều người lao động, ngành sản phẩm có liên quan đến an ninh quốc gia. Dưới tác động của các doanh nghiệp, Chính phủ có thể sẽ phải đưa ra các rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước.
Từ phía ngƣời lao động và ngƣời tiêu dùng Một trong những lý do lớn dẫn tới việc hình thành các rào cản là để bảo vệ người lao động. Trước hết là để bảo vệ cho người lao động trong ngành được bảo hộ. Người lao động có thể thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranh hoặc đòi hỏi Chính phủ hạn chế sản phẩm, doanh nghiệp và kể cả công nghệ có năng suất cao thâm nhập vào thị trường nội địa của họ. Đây chính là những lý do mà Chính phủ phải dựng lên rào cản với tên gọi là trách nhiệm xã hội.
Với người tiêu dùng cũng vậy, họ cũng có những tác động rất lớn đến việc hình thành các rào cản trong thương mại quốc tế, với lý do là để bảo vệ sức khoẻ con người, bảo vệ động thực vật hoặc là bảo vệ môi trường người ta có - thể đưa ra các tiêu chuẩn hay quy định kỹ thuật rất cao tới mức cản trở thương mại, hoặc có thể đưa ra các biện pháp cấm nhập khẩu ngay cả khi nguy cơ chưa được phân tích và xác định một cách khoa học. Nhìn chung, dưới tác động của dân chúng, Chính phủ của các nước sẽ phải sử dụng các biện pháp khác nhau để đáp ứng nguyện vọng của họ. Trong nhiều trường hợp, các biện pháp được áp dụng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở thương mại quốc tế. Từ phía Chính phủ Xuất phát từ những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và vận động của các nhóm khác nhau, Chính phủ sẽ phải cân nhắc đến lợi ích của từng nhóm cũng như tổng thể để quyết định xem có nên thực thi một rào cản nào đó hay không.
Quá trình này không phải dễ dàng vì việc tính toán lợi ích và những thiệt hại một cách tổng thể là rất khó khăn đặc biệt là phải cân nhắc giữa cái trước mắt và cái lâu dài, cũng như phản ứng của các đối tác thương mại và các quốc gia có liên quan. Với bất kỳ chính sách rào cản nào, có thể có lợi cho doanh nghiệp và người lao động trong ngành được bảo hộ, nhưng lại gây hại cho các ngành khác và cho người tiêu dùng nói chung. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn phải ra các quyết định dựa trên sự điều hoà lợi ích một cách hợp lý. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp luôn có sự cấu kết giữa doanh nghiệp và Nhà nước vì lợi ích của hai phía có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tăng mức độ bảo hộ bằng thuế quan thì thu ngân sách của Nhà nước sẽ tăng lên trong ngắn hạn.
Bên cạnh đó còn là sự xoa dịu của Chính phủ với dân chúng bởi các lý do như là đảm bảo về an ninh xã hội, hoặc là để bảo vệ các giá trị văn hoá, đạo đức. Do vậy, dù muốn hay không Chính phủ cũng vẫn phải chấp nhận hi sinh một số lợi ích để đạt được những mục tiêu quan trọng hơn trong từng giai đoạn phát triển của quốc gia từ việc tạo nên một hệ thống rào cản trong quan hệ thương mại quốc tế. Vai trò và mục đích sử dụng rào cản thƣơng mại 1. Vai trò Rào cản thương mại thường được thể hiện trong các chính sách thương mại hoặc cơ chế quản lý trong tổng thể hệ thống pháp luật của một quốc gia.
Rào cản có vai trò chủ yếu trong việc tác động vào các dòng chảy thương mại - quốc tế để điều chỉnh dòng chảy này theo hướng có lợi nhất, đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia. Trong thương mại quốc tế, rào cản bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại giữ vai trò nhất định. Chẳng hạn, để bảo hộ sản xuất trong nước người ta có thể sử dụng các biện pháp thuế quan vì thuế quan có ưu điểm là rõ ràng, minh bạch, dễ dự đoán và tạo nguồn thu chắc chắn cho Chính phủ. Tuy nhiên, thuế quan lại có nhược điểm là không tạo ra được sự bảo hộ nhanh chóng, mà phải nhờ đến những biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu.
có khả năng hạn chế nhập khẩu một cách nhanh chóng hơn. Mặc khác, một biện pháp phi thuế có thể còn phục vụ cho nhiều mục tiêu khác nhau. Tuy vậy, các biện pháp phi thuế quan cũng có nhược điểm là dễ làm sai lệch các tín hiệu thị trường dẫn tới phân bổ nguồn lực không đúng, còn các biện pháp phi thuế quan lại khó lượng hoá và khó dự đoán, không mang lại nguồn thu cho Chính phủ mà khi thực hiện còn phát sinh thêm các khoản chi phí quản lý. Do các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định nên chúng thường được sử dụng đồng thời hay kết hợp lẫn nhau.
Mặc dù thuật ngữ “rào cản” trong thương mại quốc tế không được định danh một cách chính thức trong các điều ước quốc tế, nhưng lại được các Nhà nước hoặc các Chính phủ vận dụng để ban hành thành pháp luật của quốc gia. Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng không có quy định chính thức dưới tên gọi rào cản hoặc một hệ thống luật pháp riêng có liên quan đến rào cản mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, hầu hết các nước đều cam kết từng bước dỡ bỏ các rào cản thương mại quốc tế để thúc đẩy tự do hoá thương mại, nhưng thực tế việc dỡ bỏ lại diễn ra rất chậm, thậm chí, một số rào cản mới còn được tạo dựng thêm một cách hết sức tinh vi và vẫn rất phổ biến. Như vậy, do đặc điểm và trình độ phát triển của các quốc gia còn hết sức khác nhau, nên sẽ không thể bác bỏ ngay được việc sử dụng các rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế.