CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN, XĐMT, E-WASTE VÀ CÁC THIẾT CHẾ NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG ĐỒNG 1. Khái niệm rào cản và phân loại Định nghĩa rào cản được đề cập đến trong một số từ điển với nội hàm chỉ những đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được sử dụng để tách biệt, phân định ranh giới, hoặc là các chướng ngại vật nói chung7 (Theo từ điển bách khoa toàn thư Merriam Webster). Theo từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh 8, rào cản có thể giải thích theo 7 ý nghĩa, như một dạng cấu trúc vật chất được xây dựng để ngăn trở việc vượt qua; là yếu tố phi vật chất với vai trò ngăn cản, gây trở ngại; trong lĩnh vực sinh lý học rào cản là một lớp màng, lớp mô, hoặc một cơ chế có khả năng ngăn cản quá trình chuyển đổi của một số chất; trong lĩnh vực sinh thái học rào cản là yếu tố vật lý hoặc sinh học giới hạn sự di cư, sự giao phối hoặc những hành động tự do của các cá nhân hoặc cộng đồng; rào cản có thể là một làn ranh giới hoặc giới hạn, hoặc là thứ có khả năng tách biệt hoặc giữ khoảng cách; rào cản có thể dùng để chỉ các dạng thanh chắn (cầu đường). Theo từ điển đa ngôn ngữ Kernerman, rào cản được định nghĩa là những gì được thiết lập để bảo vệ hoặc ngăn trở, hoặc gây khó khăn 9.
Cách diễn giải trên đều nhận diện đặc trưng của rào cản là bất cứ thứ gì (vật chất hoặc phi vật chất) có khả năng ngăn chặn, cản trở, gây trở ngại cho sự vượt qua một giới hạn hoặc duy trì sự tách biệt hoặc ngưỡng ranh giới nhất định. Cách phân loại thông dụng về rào cản được khá nhiều người chấp nhận gồm: rào cản nhận thức, rào cản cảm xúc, rào cản trí tuệ, rào cản diễn ngôn, rào cản môi trường, rào cản văn hóa. Luận văn này tập trung bàn về rào cản liên kết trách nhiệm đối với BVMT và phát triển bền vững. Rào cản nhận thức tồn tại khi con người không thể nhận thức đầy đủ được vấn đề hoặc các thông tin để có cách giải quyết phù hợp.
Rào cản nhận thức xuất hiện trong quá trình học hỏi để tiếp nhận thông tin về thế giới khách quan của con người. Rào cản về cảm xúc xuất hiện khi những cảm xúc, tình cảm của con người xung đột với bối cảnh, hoàn cảnh cụ thể, do đó hạn chế khả năng phản ứng, và ra quyết định của con người. Rào cản này tồn tại khi chúng ta nhận biết có sự tổn hại đến nhu cầu cảm xúc (loại nhu cầu khác biệt nhau về loại hình và cường độ ở mỗi cá nhân có thể là: nhu cầu về thành công, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được ra mệnh lệnh, nhu cầu phụ thuộc và nhu cầu về lòng tự trọng. Rào cản trí tuệ xuất hiện khi con người không đủ khả năng để hấp thụ thông tin, kiến thức cần thiết nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh).
Rào cản trí tuệ tồn tại khi con người không có những kĩ năng tư duy cần thiết để tìm ra giải pháp phù hợp cho các vấn đề nảy sinh, hoặc không thể sử dụng chúng một cách tối ưu. Rào cản về diễn ngôn là sự khó khăn khi cá nhân hoặc nhóm người không thể giao tiếp, hay diễn đạt ý muốn nói theo ngôn ngữ được sự thông hiểu của những người 7 http://www.com/medical/barrier 8 The American Heritage® Dictionary of the English Language, Fourth Edition copyright ©2000 by Houghton Mifflin Company. Published by Houghton Mifflin Company 9 Kernerman English Multilingual Dictionary © 2006-2010 K Dictionaries Ltd: barrier: something put up as a defence or protection a barrier between the playground and the busy road, something that causes difficulty His deafness was a barrier to promotion. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Rào cản môi trường xuất hiện do những trở ngại, chướng ngại trong môi trường tự nhiên hoặc xã hội cản trở việc con người đạt được hoặc giải quyết được những vấn đề trong đời sống. Rào cản văn hóa xuất hiện khi những đặc trưng văn hóa biểu hiện qua hành vi được cho là khác thường, nằm ngoài những dự liệu về cách ứng xử văn hóa thông thường (theo tập tục, tập quán, theo nghi lễ, theo chuẩn mực xã hội. Rào cản văn hóa tồn tại khi việc giải quyết vấn đề gặp trở ngại bởi sự khác biệt giữa một bên cho rằng giải pháp đó là phù hợp với thông lệ, trong khi bên còn lại có ý kiến hoàn toàn trái ngược. Đứng trước một tình huống nan giải con người thường có thói quen tạo lập các giải pháp hơn là tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của vấn đề (nếu một việc không hoàn thành thì ngay lập tức người ta sẽ đặt câu hỏi tại vì sao việc đó lại không được hoàn thành hơn là đặt câu hỏi vì sao việc đó cần phải hoàn thành).
Con người là chủ thể sáng tạo song cũng là những cá nhân không thích sự thay đổi bởi thay đổi thường liên quan đến những yếu tố bất định, khó biết trước được kết quả có thể xảy ra. Bên cạnh những rào cản mang tính văn hóa cá nhân, thì tồn tại những rào cản văn hóa mang tính đại chúng như rào cản do niềm tin, rào cản do định kiến, rào cản giữa hợp tác và bất hợp tác, rào cản do những điều cấm kỵ, rào cản do khác biệt về giá trị. Lý thuyết về rào cản bên cạnh sự đa dạng và phong phú trong cách phân tích và diễn giải khái niệm, thì việc phân loại rào cản và tìm hiểu về nguyên nhân của các rào cản còn khá ít ỏi. Do vậy hiện nay rào cản được nhận diện là những trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thiết kế và thực thi các giải pháp nhằm ngăn trở sự vượt qua các giới hạn, chuẩn mực cho phép ở cả khía cạnh lý luận và thực tiễn.
Các phân loại rào cản dù đã được đưa ra song vẫn có những phần còn trùng lặp về nội dung, do đó vẫn cần những nghiên cứu sâu hơn, hệ thống hơn về khái niệm này. Một nhận thức sâu chuỗi trong đề tài này là rào cản và xung đột được đặt trong mối nguyên nhân và hệ quả, trong đó rào cản càng thúc đẩy những hoạt động bất hợp tác trong quản lý thì khả năng xảy ra và tính phức tạp của những xung đột ngày càng tăng cao là không thể tránh khỏi. Bởi tương tác này mà rào cản cũng được nhìn nhận như môi trường thuận lợi cho xung đột, và xung đột là hệ lụy tất yếu của sự phát triển các rào cản. Nghiên cứu này nhằm nhận diện rào cản liên kết trách nhiệm trong BVMT là các nhân tố, hành vi gây khó khăn, vướng mắc, cản trở sự hình thành “tính trội” trong hệ thống quản lý XĐMT của xã hội.
Rào rản này xuất hiện khi nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng không tìm được cách thức xử lý XĐMT xuất phát những khác biệt về nhận thức, văn hóa và lợi ích trong hoạt động BVMT và phát triển bền vững. XĐMT và các khái niệm liên quan Bản chất của XĐMT Theo cách hiểu thông thường xung đột là trạng thái bất đồng, xích mích do sự đối lập, đối kháng về nhu cầu, giá trị và lợi ích thực tế hoặc trong nhận thức. Xung đột biểu hiện cho sự khác biệt trong quan điểm, cách thức hành động giữa các chủ thể về một đối tượng nhất định trong định hướng mục tiêu của mỗi bên, nó có thể là những đối kháng trực tiếp hoặc gián tiếp với những cấp độ khác nhau do nhiều tác nhân chi phối. Điều cần nhấn mạnh ở đây là xung đột là một hiện tượng xã hội có tính tất yếu bao hàm cả các tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển chung của vũ trụ.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ sở chung của lý thuyết xung đột xã hội là tính chất không tương hợp giữa quyền lợi, địa vị xã hội chi phối các hành vi mỗi chủ thể tham gia xung đột. Sự khác biệt giữa các nhu cầu, lợi ích, quyền thế làm cơ sở cho những đối kháng xảy ra, làm phân hóa xã hội tạo nên các tầng bậc quan hệ khác nhau. Xung đột xã hội có thể được đặt trong tầm kiểm soát nếu các bên liên quan nhận diện được các đường biên của sự mặc cả và nhân nhượng trong khuôn khổ cam kết về lợi ích được đảm bảo giữa các bên. Do đó có thể nhận định xung đột xã hội là các quan hệ và các quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân, hay nhóm có sự đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề nhất định phát sinh từ sự không nhất trí về nhận thức, mục tiêu, lợi ích và quyền lực.
Trong bình diện chung về các dạng xung đột xã hội, XĐMT nổi lên như một sự kiện gây nhiều chú ý của các học giả bởi tầm quan trọng và tính cấp thiết của các vấn đề môi trường sau một giai đoạn phát triển không kiểm soát của nền kinh tế thế giới. Khoảng giữa những năm 1980 nhà nghiên cứu Arthur Westing10 đã khơi dậy những ý tưởng đầu tiên mở rộng khái niệm an ninh cổ điển sang bao hàm các vấn đề mới như thay đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Nghiên cứu của Westing mở đầu bằng trường hợp các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, sau đó là cuộc chiến Algeria, các cuộc chiến chinh phục thuộc địa, các vùng lãnh thổ, theo sau là cuộc nội chiến, chiến tranh ly khai thập kỉ 90 của thế kỷ XX. Ông cho rằng, điểm chung nổi bật của những cuộc chiến này là việc tranh giành tài nguyên thiên nhiên như nước, khí đốt, ngư trường, sản phẩm từ đất và bản thân đất đai.
Những cuộc tranh luận có tính liên ngành trên diện rộng về khái niệm này gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới chuyên môn cũng như trong giới chính trị gia cho tới cuối thời kỳ chiến tranh lạnh.Vấn đề hàng đầu lôi kéo sự quan tâm của giới nghiên lúc đó là tìm câu trả lời cho câu hỏi: Có hay không và trong trường hợp nào môi trường sinh thái có thể đe doạ đến an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu? Đầu những năm 1990 đánh dấu sự tham gia tích cực của các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa môi trường và xung đột, mà chủ yếu là về mối liên hệ nhân quả giữa khan hiếm, suy kiệt môi trường với các cuộc xung đột tại các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi.