CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm cơ bản trong hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN 1. Quản lý và rào cản của hoạt động này Trong thực tế, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải thích về khái niệm, về bản chất, về lý luận và về các kỹ thuật làm cơ sở cho thực hành quản lý.
Có thể hiểu một cách đơn giản về khái niệm này là: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các công cụ, phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Hoạt động này có thể được mô tả như sau2: Công cụ 1 Công cụ 2 Mục Đối Đối Chủ thể tiêu tượng tượng 2 quản lý chung Phương tiện 1 1 Phương tiện 2 Người quản lý Người bị quản lý Phi con người MÔI TRƯỜNG Như vậy, nếu nhìn nhận hoạt động này như một quá trình thì đó chính là quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra thông qua sự tương tác giữa đối tượng quản lý và đối tượng bị quản lý trong một môi trường xác định. Định nghĩa rào cản được đề cập đến trong một số từ điển với nội hàm chỉ những đối tượng vật chất, hoặc những vật thể được sử dụng để tách biệt, phân định ranh giới hoặc là các chướng ngại vật nói chung (theo từ điển bách khoa toàn thư Merriam Webster). Theo từ điển ngôn ngữ tiếng Anh rào cản có thể giải thích theo 7 ý nghĩa, như một dạng cấu trúc vật chất được xây dựng để ngăn trở việc vượt qua; là yếu tố phi vật chất với vai trò ngăn cản, gây trở ngại; trong lĩnh vực sinh học rào cản rào cản là một lớp màng, lớp mô hoặc một cơ chế có khả năng ngăn cản quá trình chuyển đổi của một số chất; trong lĩnh vực sinh thái học rào cản là yếu tố vật chất vật lý hoặc sinh học giới hạn sự di cư; rào cản có thể là một làn ranh giới hoặc giới hạn, hoặc là thứ có khả 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng tách biệt hoặc giữ khoảng cách; hoặc rào cản có thể dùng để chỉ các dạng thanh chắn (cầu đường)…Theo từ điển đa ngôn ngữ Kernerman rào cản được định nghĩa là những gì thiết lập để bảo vệ hoặc ngăn trở, hoặc gây khó khăn.
Cách diễn đạt trên đều nhận diện đặc trưng của rào cản là bất cứ thứ gì (vật chất hoặc phi vật chất) có khả năng ngăn chặn, cản trở, gây trở ngại cho sự vượt qua một giới hạn hoặc duy trì sự tách biệt hoặc ngưỡng danh giới nhất định. Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “rào cản” có thể hiểu là việc ngăn, không cho vượt qua, là sự trở ngại, ngăn cách. Như vậy, rào cản được hiểu thông thường là vật chắn/ngáng. Rào cản trong hoạt động quản lý chính là những cản trở xuất hiện trong quá trình quản lý khiến cho quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra gặp khó khăn dẫn tới mục tiêu quản lý có thể không đạt hoặc đạt ở mức độ thấp.
Quá trình tiến hành hoạt động quản lý hoàn toàn có thể gặp các rào cản bởi hoạt động này luôn trong trạng thái chịu sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm: - Các yếu tố môi trường: bối cảnh quản lý, chính sách và chiến lược phát triển,… - Các yếu tố đầu vào: thông tin quản lý (chính sách, chỉ đạo của cấp trên, quyết định của nhà quản lý, phản hồi từ các đối tượng quản lý), công cụ, phương tiện quản lý,… - Các yếu tố thực thi (bao gồm đối tượng quản lý và đối tượng bị quản lý): đặc điểm và năng lực quản lý của đối tượng quản lý; đặc điểm và năng lực thực hiện của đối tượng bị quản lý. - Các yếu tố đầu ra: mục tiêu quản lý được thực tiễn hóa, phản hồi của đối tượng bị quản lý và các kết quả hệ lụy. Nếu các yếu tố này tác động tích cực thì quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra được trơn chu, nếu ngược lại, các rào cản xuất hiện khiến quá trình gặp trục trặc, khó đạt tới mục tiêu như xác định. Quản lý nhà nước và Quản lý hành chính nhà nước Quản lý nhà nước là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân và là dạng quản lý xã hội đặc biệt.
Đó là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể về thể chế, pháp luật, quy tắc, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước; do tất cả các cơ quan nhà nước - lập pháp, hành pháp và tư pháp - có tư cách pháp nhân công pháp tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức, điều 2 Trần Ngọc Liêu (2009), Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành và kiểm tra, kiểm soát để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong quá trình tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Quản lý hành chính nhà nước là sự thực thi quyền hành pháp của Nhà nước. Đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành. Quản lý nhà nước về KH&CN Luật KH&CN năm 2013 không có định nghĩa về “Quản lý nhà nước về KH&CN”.
Với cách hiểu về quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước như trên có thể hiểu quản lý nhà nước về KH&CN công nghệ là dạng quản lý trong lĩnh vực KH&CN mà trong đó chủ thể quản lý chính là Nhà nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước của bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực KH&CN. Một số khái niệm cơ bản trong hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN cấp huyện 1. Hoạt động KH&CN Hoạt động KH&CN: là những hoạt động có tính hệ thống liên quan chặt chẽ với việc tạo lập, thúc đẩy, truyền bá và ứng dụng tri trức KH&CN trong mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Theo Luật KH&CN năm 2013 (Điều 3, điểm 3), “ Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ” Nhiệm vụ hoạt động KH&CN là3: “1. Xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội tháng 6/2009, tr10 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy giá trị truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới. Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người; kịp thời dự báo, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai. Tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống.
Hoạt động KH&CN cấp huyện Ở nước ta hiện nay, hoạt động KH&CN cấp huyện có những đặc điểm nổi bật là: (1) Hoạt động KH&CN cấp huyện trong cơ chế thị trường không chỉ tiến hành “thuần nhất” trong khu vực nhà nước (cơ sở nghiên cứu - phát triển, cơ sở đào tạo, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở sự nghiệp, cơ quan quản lý,…của Nhà nước) mà tiến hành trong tất cả các thành phần kinh tế (khu vực nhà nước, khu vực tập thể, khu vực tư nhân, hộ gia đình, liên doanh,.); (2) Hoạt động KH&CN cấp huyện bao quát một phạm vi rộng với nội dung phong phú (từ hoạch định chiến lược và chính sách phát triển KH&CN địa phương; cụ thể hóa pháp luật KH&CN của Trung ương và tự xây dựng pháp luật KH&CN địa phương; tiến hành công tác kế hoạch hóa KH&CN; triển khai các hoạt động quản lý cụ thể; tổ chức bộ máy quản lý KH&CN; đến thanh tra xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động KH&CN); (3) Hoạt động nghiên cứu và triển khai ở huyện nói chung là tiến hành với quy mô nhỏ, trình độ KH&CN không cao, kinh phí đầu tư ít và thường là diễn ra trong thời 3 Theo Điều 4, Luật KH&CN năm 2013 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gian ngắn, chủ yếu là triển khai ứng dụng, hoạt động nghiên cứu cơ bản rất ít không đáng kể; (4) Đã xuất hiện một thị trường KH&CN, chủ yếu là thị trường công nghệ ở nông thôn - mà biểu hiện rừ nhất là việc hộ nông dân, các hợp tác xã mua sắm các máy móc nông nghiệp cải tiến (máy làm đất trên ruộng nước, máy gặt, máy đào kênh, máy gieo hạt, máy gặt, máy sấy di động,…), mua các giống cây con sạch bệnh, năng suất cao của các cơ sở nghiên cứu trong nước và cả nước ngoài.