Chương 1: Cơ sở lý luận việc nhận diện rào cản của doanh nghiệp tham gia vào Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020. Chương 2: Nhận diện rào cản của Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghệ sinh học Dược Nanogen khi tham gia vào Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020. Chương3: Giải pháp tháo gỡ rào cản trong phát triển công nghệ cao ở nước ta. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NHẬN DIỆN RÀO CẢN CỦA DOANH NGHIỆP THAM GIA VÀO CHƢƠNG TRÌNH QUỐC GIA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO ĐẾN NĂM 2020 1.
Một số khái niệm chung 1. Khái niệm Công nghệ Trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng có rất nhiều tác giả nghiên cứu về công nghệ. Ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, các tác giả lại đưa ra khái niệm khác nhau về công nghệ, do vậy thật khó có thể đưa ra trong tiếp cận định nghĩa được chuẩn tắc chung. Trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa, con người quen dùng khái niệm công nghệ với nghĩa nó là phương tiện vật chất như công cụ, năng lượng, vật liệu được con người sáng tạo và sử dụng trong sản xuất và dịch vụ.
Từ những năm 60 trở lại đây, do mua bán công nghệ ngày càng sôi động trong kinh doanh quốc tế nên công nghệ đã được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Hiện nay đang tồn tại những quan niệm khác nhau về công nghệ. Song, chưa có sách vở nào đưa ra một định nghĩa chuẩn xác về công nghệ. Ngoài ra, tồn tại một số quan niệm phổ biến về công nghệ như “Công nghệ là máy biến đổi”.
Với quan niệm này, công nghệ được thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nó thể hiện xu hướng cho rằng khoa học và công nghệ là một và phải được áp dụng đồng thời, và các nhà khoa học ứng dụng cần tìm ra cách áp dụng vào thực tế các lý thuyết thuần tuý. Thứ hai, thuật ngữ “công nghệ” liên quan đến khả năng làm một cái gì đó, ngụ ý rằng nó là những gì làm biến đổi yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra sau cùng. Quan niệm như vậy đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ.
Tuy nhiên, những 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định nghĩa này còn rất chung chung, không đủ cụ thể để mở ra chiếc “hộp đen công nghệ”. “Công nghệ là công cụ”: Với quan niệm này, công nghệ dựa trên nền tảng là các máy móc thiết bị. Cách nhìn này vẫn còn phổ biến đến ngày nay, mặc dù một vài định nghĩa có nói đến sự tác động quan lại giữa máy móc – con người. Những định nghĩa dựa trên quan niệm “Công nghệ là công cụ” đã mở ra phần nào chiếc hộp đen công nghệ, tuy nhiên nó vẫn còn thiếu sót.
Tác giả Simon đã nói trong cuốn sách “Technology Policy Formulation and Planning: A Reference Manual” rằng: “Nhìn công nghệ ở khía cạnh máy móc và những vật chất rõ ràng sai lầm giống như chỉ nhìn thấy cái vỏ của con ốc sên, hay cái mạng của con nhện vậy.” “Công nghệ là kiến thức”: cho rằng kiến thức là bản chất của tất cả các phương tiện chuyển đổi. Những người ủng hộ quan niệm này cho rằng kiến thức là khía cạnh quan trọng hàng đầu. Một trong những đóng góp chính của quan niệm này là giúp mở ra chi tiết hơn “hộp đen công nghệ” bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức và phác hoạ các dạng kiến thức cần thiết cho các hoạt động chuyển đổi. “Công nghệ là các hình thái biểu hiện”: cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề mà ba quan niệm trên gặp phải và cố mở ra hoàn toàn chiếc hộp đen công nghệ.
Quan niệm này nhìn công nghệ theo những hình thái biểu hiện khác nhau theo cách tiếp cận chiết trung, dựa trên những ý tưởng phát ra từ ba quan niệm phía trên. Một số định nghĩa theo quan niệm này vẫn còn chung chung theo các khía cạnh “phần cứng” và “phần mềm”, nhưng cũng có những định nghĩa cụ thể hơn và có ý nghĩa đáng kể trong việc mở ra hộp đen công nghệ (chia công nghệ theo các thành phần Kỹ thuật, Con người, Thông tin và Tổ chức). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quy định tại Luật khoa học và công nghệ năm 2013 thì khái niệm công nghệ được định nghĩa như sau: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Tuy nhiên, với cách tiếp cận một cách tổng hợp, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm công nghệ như sau: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Công nghệ nói cách khác, là sự tạo ra biến đổi việc sử dụng kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ đến một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình. Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình. Khái niệm công nghệ cao Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD): Tổ chức này đã đưa ra một khái niệm rất khái quát về CNC như sau: CNC là các công nghệ có tỷ lệ chi cho NC&PT lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, các sản phẩm và quy trình công nghệ được đổi mới nhanh chóng, có tác động mạnh mẽ đối với sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế trong NC&PT, sản xuất và chiếm lĩnh thị trường trên quy mô thế giới (11, tr2).
Tại Mỹ và Nhật Bản CNC được hiểu là công nghệ tiên tiến, công nghệ hàng đầu với ba đặc điểm: - Là công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng, có đổi mới quan trọng; - Là công nghệ đòi hỏi nhân lực trình độ cao xuyên suốt quá trình từ nghiên cứu - thiết kế - chế tạo sản phẩm; 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Là công nghệ đòi hỏi chi phí lớn cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, thương mại hoá, sản xuất và phân phối sản phẩm.1 Tại các nước trong khu vực (Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan.) những nội dung chủ yếu của CNC cũng được thống nhất như khái niệm của OECD. Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế và ý chí của các nhà lãnh đạo của mỗi nước khác nhau nên những tiêu chí về CNC như tỷ lệ chi cho NC&PT, nhân lực nghiên cứu KH&CN được quy định ở những mức khác nhau. Khái niệm CNC được đề cập ở Việt Nam vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước và được sử dụng một cách rộng rãi, chính thức trong các tài liệu khoa học, các văn bản, văn kiện của Đảng và Nhà nước vào thập kỷ 80, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây. Việc tiếp thu, làm chủ được một số CNC chuyên ngành trong lĩnh vực điện tử - tin học - viễn thông đã đưa ngành này đạt được một số kết quả đáng khích lệ trọng thập kỷ 90 và những năm đầu của thế kỷ này.
Kết quả tương tự như vậy đối với ngành thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tầu với các công nghệ tương ứng có yếu tố CNC. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong một số ngành trọng yếu như tài chính, ngân hàng, thương mại cũng tạo được cơ sở ban đầu quan trọng thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ CNC. Khái niệm CNC ở Việt Nam đã được quy định tại một số văn bản như: Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28/08/2003 về Quy chế khu CNC và Luật Chuyển giao công nghệ - 2007. Theo quy định của Luật CNC, những nội dung chủ yếu của khái niệm CNC vẫn được giữ nguyên, không đổi và hoàn thiện như sau: CNC là công nghệ có hàm lượng cao tri thức và công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại có thể sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với 1 Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Mỹ (CSIS) 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trường và có vai trò quan trọng cho việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
Khái niệm rào cản Rào cản là những yếu tố tác động làm cản trở sự tham gia của các đối tượng, chủ thể vào một quá trình nào đó. Rào cản công nghệ là các yếu tố tác động đến cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức tham gia vào các hoạt động công nghệ. Hiện nay, có rất nhiều loại rào cản tác động đến các đối tượng trong việc tham gia các hoạt động công nghệ. Tuy có nhiều loại rào cản nhưng đối với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực hoạt động khoa học công nghệ, các rào cản được chia làm hai nhóm chính sau: Rào cản từ môi trường bên ngoài: Bao gồm các rào cản về hệ thống khung pháp lý, chính sách; các rào cản về chính sách hỗ trợ tài chính, thuế…và một số rào cản khác như tác động của nền kinh tế, tiếp cận thông tin, thị trường… Đây là các rào cản có tác động khá mạnh mẽ đến sự tham gia cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp tham gia trong lĩnh vực này.
Mọi sự thay đổi của các yếu tố này có tác động giúp doanh nghiệp phát triển hoặc đi xuống. Rào cản từ môi trường bên trong: Đây là các rào cản tác động trực tiếp đến sự phát triển của các doanh nghiệp. Các rào cản đó bao gồm các rào cản về con người, tài chính yếu tố về cơ sở vật chất, nguồn tài chính, làm chủ công nghệ yếu tố quản lý doanh nghiệp… Các rào cản này tác động trực tiếp đến sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tham gia vào chương trình công nghệ. Nơi mà luôn có sự biến đổi liên tục và có sự cạnh tranh cao.