Chương 1. Cơ sở lý luận của Luận văn - Chương 2. Nhận dạng rào cản đối với CGCN qua các dự án FDI. Giải pháp khắc phục các rào cản đối với CGCN qua các dự án FDI.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đầu tư và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Luật Đầu tư năm 2005 định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thanh tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”[14, tr. Căn cứ vào khái niệm đầu tư nêu trên, người ta phân loại đầu tư theo các tiêu chí khác nhau, trong đó có tiêu chí phân loại theo chức năng quản trị vốn.
Theo tiêu chí phân loại này, người ta chia ra làm hai loại: - Đầu tư trực tiếp; - Đầu tư gián tiếp. Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một khoảng thời gian xác định nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ cố giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điều hành, tổ chức sản xuất để thu lại lợi ích và hoàn toàn chịu trách nhiệm về đồng vốn cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, quan điểm về đầu tư sẽ khác nhau. Theo quan điểm của chủ đầu tư (doanh nghiệp): Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận.
Theo quan điểm của xã hội (quốc gia): Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý dự án đầu tư. Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định (gồm dự án đầu tư mới và dự án mở rộng quy mô).
Dự án là một thuật ngữ dùng để chỉ việc đầu tư tại một địa điểm nhất định; Thuật ngữ này khác với đăng ký kinh doanh của một doanh nghiệp, được hoạt động trong phạm vi toàn quốc. Việc quyết định về địa điểm là một quyết định có tầm quan trọng chiến lược. Địa điểm tác động lâu dài đến hoạt động và lợi ích của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lâu dài đến dân cư quanh vùng. Dự án đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư (góp vốn vào Công ty TNHH, nhà đầu tư tham gia Hội đồng thành viên và trở thành người quản lý công ty/hay góp cổ phẩn, nhà đầu tư trở thành cổ đông và được trực tiếp tham gia Đại hội cổ đông - cơ quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần).
Khái niệm công nghệ Hiện nay trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ, chính vì vậy có rất nhiều khái niệm công nghệ, có thể điểm qua một số khái niệm sau1: Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất/thông tin”[9, tr. 1 Xin tham khảo thêm Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2003), Công nghệ và Phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo tác giả F.Root: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”[4, tr. Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới.Graham (1988): Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ”[4, tr.
Với cách hiểu công nghệ của E.Graham thì công nghệ là thứ hàng hoá vô hình, người có được công nghệ là người nắm được lợi thế trong việc sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ nhờ áp dụng công nghệ có được. Theo Ngân hàng thế giới (1985)[4]: Công nghệ là phương pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: - Thông tin về phương pháp; - Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá; - Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao. Ở đây, công nghệ được hiểu là những thông tin, bí quyết và phương pháp được áp dụng trong việc chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm. Theo tác giả Sharif (1986): “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm một trường vật chất, xã hội và văn hoá’’[4, tr.
Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: - Thể hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh,…) - Thể hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm) - Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp…. được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v.v…) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…). Theo OECD: “Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định”[4, tr. Theo UNIDO: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học (kết quả) vào sản xuất bằng cách sử dụng những kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp” [20, tr.
Theo ESCAP: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến nguyên liệu và thông tin”[20, tr. Để mở rộng và cụ thể hoá khái niệm công nghệ, ESCAP lại đưa ra định nghĩa sau: “Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất hoặc trong dịch vụ (công nghiệp và quản lý)”. Theo Luật CGCN (2006): “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[13, tr. Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả sử dụng khái niệm công nghệ trong Luật CGCN năm 2006 mặc dù khái niệm này còn có thể chưa hoàn toàn nhận được sự nhất trí của một số nhà nghiên cứu nhưng đây là khái niệm được thể hiện xuyên suốt trong các văn bản pháp quy của Nhà nước về công nghệ và CGCN.
Khái niệm CGCN Có nhiều quan niệm khác nhau về CGCN. Tuỳ theo bản chất, mục đích và đối tượng của chuyển giao mà có cách hiểu khác nhau về CGCN. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “CGCN là quá trình trao tri thức công nghệ (có thanh toán hoặc không thanh toán)”[9, tr. Đây là cách nói tổng quát nhất về CGCN.
Theo tác giả Trần Ngọc Ca “CGCN là một quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác. Như vậy CGCN bao hàm cả chuyển giao mất tiền (mua - bán) và chuyển giao không mất tiền”[4, tr. Theo Luật CGCN, năm 2006: “CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ. CGCN có thể tại Việt Nam, từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài”[ 15, tr.
Hoạt động CGCN bao gồm: CGCN và dịch vụ CGCN, trong đó dịch vụ CGCN là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN. Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể là một phần hoặc toàn bộ công nghệ, bao gồm: Các bí quyết kỹ thuật; Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu về công nghệ chuyển giao; Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ. Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp. Các dòng chuyển dịch công nghệ tạo ra sự lưu thông công nghệ và thị trường công nghệ.
Thị trường công nghệ được hiểu là những thể chế đảm bảo cho việc mua bán, CGCN được thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia. Xét về yếu tố thương mại: CGCN có thể là hoạt động có thanh toán (thương mại), hoặc không thanh toán (phi thương mại). 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.