Chương 1. Quyền yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự Chương 2. Quyền kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự 8 CHƢƠNG 1 QUYỀN YÊU CẦU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN KHI KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Căn cứ thực hiện quyền yêu cầu 1.
Quy định của pháp luật Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 LTCVKSND 2014, Điều 21 BLTTDS 2015, quy định về nhiệm vụ quyền hạn của VKSND. Theo các quy định trên, VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự nói riêng, VKSND đảm bảo việc giải quyết các vụ án tại TAND kịp thời, đúng pháp luật và bản án, quyết định đã có hiệu lực phải được thi hành nghiêm chỉnh. Quyền yêu cầu khi kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, là một trong những phương thức kiểm sát hoạt động tư pháp và được thực hiện thường xuyên trong quá trình kiểm sát TAND giải quyết các vụ án dân sự.
Theo Từ điển Tiếng Việt, quyền yêu cầu là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người đó làm, vì đó là việc 1 thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”. Là “nêu lên một điều gì đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, 2 trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”. Dưới góc độ pháp lý, quyền yêu cầu là một trong ba quyền năng quan trọng mà VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS nói chung và trong quá trình kiểm sát các vụ án dân sự nói riêng. Theo quy định tại điểm a, c khoản 3 Điều 4 LTCVKSND 2014, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho VKSND; cung cấp hồ sơ, tài liệu để VKSND kiểm sát tính hợp pháp của hành vi quyết định trong hoạt động tư pháp; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.
1 Trung tâm từ điển học (2014), Từ điển tiếng việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 2 Vũ Thị Hồng Vân (2018), “Một số vấn đề về quyền yêu cầu, quyền kiến nghị của VKSND trong tố tụng dân sự”, Tạp chí khoa học Kiểm sát, số 06, tr. 9 Khoản 1 Điều 21 BLTTDS 2015 quy định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Trên cơ sở quy định của BLTTDS 2015, tại Chương III TTLT số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC đã cụ thể hóa quyền yêu cầu của Viện trưởng và Kiểm sát viên khi kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, bao gồm: a, Các quyền yêu cầu tại các khoản 3, 6 và 8 Điều 58, khoản 4 Điều 326, điểm c khoản 1 Điều 254, Điều 255, Điều 258 BLTTDS; b, Yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án theo các Điều 4, 5, 6 Thông tư liên tịch này.
c, Yêu cầu Tòa án cho sao chụp bản sao đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định tại Điều 21 Thông tư liên tịch này. d, Yêu cầu người gửi đơn sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo khoản 2 Điều 329, Điều 357 BLTTDS. e, Yêu cầu Tòa án, cơ quan khác, tổ chức, cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Điều 515 BLTTDS và khoản 3 Điều 34 Thông tư liên tịch này. Hướng dẫn hoạt động về Kiểm sát viên tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm, Điều 5 QĐ 458/QĐ-VKSTC quy định: Trước phiên tòa, KSV có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ (nếu cần thiết).
Điều 13 QĐ 458/QĐ-VKSTC quy định: VKS có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ. Từ những quy định trên, quyền yêu cầu của VKS trong TTDS là quyền pháp định. Quyền yêu cầu của VKS, nhằm đảm bảo khi Tòa án, người tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng khác, thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc chưa thực hiện hoặc không thực hiện quy định của pháp luật TTDS, VKS có quyền yêu cầu các chủ thể trên phải thực hiện theo quy định của pháp luật để sửa chữa, khắc phục những thiếu sót nhằm giải quyết vụ án dân sự đúng đắn, chính xác. Thông qua công tác kiểm sát, VKS đảm bảo cho hoạt động tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật, nâng cao hiệu của hoạt động xét xử tại TAND.
Thực tiễn áp dụng Kết quả đạt được: Trên cơ sở các quy định về quyền yêu cầu của VKS, trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, về cơ bản, VKSND hai cấp tỉnh Bình Thuận đã thực hiện quyền yêu cầu một cách kịp thời, có chất lượng, góp phần vào việc đảm bảo các vụ án dân sự được giải quyết toàn diện, khách quan và đúng quy định của pháp luật. Các yêu cầu mà VKS thực hiện trong quá trình kiểm sát đều tuân thủ về căn cứ, hình thức, thời hạn. Phần lớn yêu cầu của VKS đều được Thẩm phán và Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm về nội dung yêu cầu. Ví dụ 1: Trong quá trình kiểm sát vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị L và bị đơn Nguyễn Tấn Sỹ.
Nhận thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, nhiều mâu thuẫn, một số nội dung chưa được làm rõ, VKSND huyện TL đã ban hành yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ 3 với các nội dung : Một, yêu cầu Tòa án tiến hành lấy lời khai của các đồng nguyên đơn vì trong quá trình tố tụng, TAND huyện TL chưa tiến hành lấy lời khai, đồng thời các đồng nguyên đơn cũng chưa có văn bản ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thay mình. Hai, trong hồ sơ thể hiện bà Trần Thị Thủy là vợ của ông Nguyễn Văn Tường và được Tòa án xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Yêu cầu Tòa án xác minh lại địa chỉ và lấy lời khai của bà Thủy, tiến hành các thủ tục tố tụng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thủy. Ba, xác minh làm rõ thời điểm ông Tường bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì ông có tài sản gì không? nếu có tài sản do ai trông coi, quản lý?.
Sau khi nhận được văn bản yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ của VKS, TAND huyện TL đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, có thông báo không mở phiên tòa và gửi đến VKSND huyện TL, với nội dung: “Nhận thấy, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ, cần phải thực hiện để đảm bảo việc xét xử vụ án được chính xác, khách quan. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh thông báo không mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vào lúc 7h30 ngày 27/4/2021 theo như đã ấn định trong quyết định đưa vụ án ra 3 Yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ số 152/YC-VKS-DS ngày 22/4/2021 của VKSND huyện Tánh Linh. 11 xét xử đã ban hành. Vụ án sẽ được mở lại xét xử khi Tòa án thu thập đầy đủ chứng 4 cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát”.
Sau khi xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ, Tòa án đã xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Ví dụ 2: Kiểm sát việc giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Trần Thị Tr và bị đơn bà Phạm Thị V. Nhận thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, nhiều mâu thuẫn, VKSND huyện ĐL đã có văn bản 5 yêu cầu TAND huyện ĐL xác minh, thu thập chứng cứ với các nội dung : Một, giấy mượn tiền do đương sự cung cấp là bản phô tô vì vậy yêu cầu Thẩm phán thu thập tài liệu chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015. Hai, xác định hợp đồng vay có thỏa thuận lãi không, lãi suất cụ thể? Ba, xác minh làm rõ tình trạng hôn nhân của bị đơn để xác định có hay không nghĩa vụ liên đới của chồng bị đơn.
Sau khi nhận được văn bản yêu cầu, TAND huyện ĐL đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của VKS, bổ sung vào hồ sơ vụ án và đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định. Đến nay bản án của TAND huyện ĐL đã có hiệu lực pháp luật. Khó khăn, vướng mắc: Bên cạnh những kết quả như trên, việc thực hiện quyền yêu cầu của VKSND khi kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự gặp phải khó khăn vướng mắc như sau: Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 BLTTDS 2015, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTDS nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Theo đó, quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ là một trong những biện pháp nghiệp vụ của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát giải quyết vụ án dân sự.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 BLTTDS 2015, khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, KSV có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự theo quy định nhưng lại không quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện yêu cầu của KSV.