Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất và pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất từ thực tiễn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG SẢN XUẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG SẢN XUẤT 1.
Một số vấn đề lý luận về chủ rừng sản xuất và quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất 1. Khái niệm và đặc điểm của chủ rừng sản xuất 1. Khái niệm Luật Lâm nghiệp năm 2017 không đưa ra khái niệm về “chủ rừng sản xuất”. Đây là một thuật ngữ chỉ tính tổng thể mà để giải nghĩa được cần phải làm rõ nội hàm của các thuật ngữ cấu thành bao gồm “rừng”, “chủ rừng” và “rừng sản xuất”.
Thứ nhất, đối với “rừng”: Rừng (tiếng Anh: forest) là một thuật ngữ có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quốc (FAO) thì: “Rừng là một khu vực đất đai có diện tích lớn hơn 0,5 ha với độ che phủ của tán rừng trên 10%, độ cao trung bình tối thiểu của cây phải đạt 5 mét, rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng” [10, tr. Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC) cũng đưa ra định nghĩa về “rừng” như sau: “Rừng là khu vực đất có diện tích tối thiểu từ 0,05 - 1,0 ha với độ che phủ của tán cây (hoặc độ tàn che tương đương) trên 1 0-30% với cây có khả năng đạt chiều cao tối thiểu 2-5 mét khi trưởng thành. Rừng có thể bao gồm một trong hai dạng rừng kín, nơi cây cối nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất hoặc rừng thưa.
Rừng tự nhiên trẻ và tất cả các rừng trồng chưa đạt mật độ ngọn 10-30% hoặc cây cao từ 2-5 mét thì chưa được coi là rừng” [34, tr. 9 Dưới góc độ lập pháp thì Khoản 3, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam thì: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên. Như vậy, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rừng nhưng đều có điểm chung là xác định được các tiêu chí cụ thể để phân biệt giữa rừng và các khu vực khác không phải là rừng, bao gồm: Diện tích rừng, độ tàn che (độ che phủ), thành phần cây rừng hay độ cao tối thiểu của cây rừng… Thứ hai, đối với chủ rừng: Khái niệm chủ rừng xuất phát từ thuật ngữ sở hữu rừng (tiếng Anh: Forest Ownership). FAO đã đưa ra giải nghĩa về sở hữu rừng như sau: “sở hữu rừng là quyền hợp pháp để sử dụng, kiểm soát, chuyển nhượng hoặc thu lợi từ rừng một cách tự do và độc quyền.
Quyền sở hữu có thể đạt được thông qua chuyển nhượng như bán, tặng cho và thừa kế ” [10, tr. Chủ thể có quyền sở hữu rừng theo FAO rất đa dạng, bao gồm các chủ sở hữu là: i) Nhà nước (bao gồm: Nhà nước, cơ quan hành chính, tập đoàn và công ty Nhà nước); ii) Cá nhân (bao gồm: cá nhân và hộ gia đình); iii) Doanh nghiệp (bao gồm: công ty, hợp tác xã, tổ chức phi chính phủ, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên…); iv) Cộng đồng địa phương (Các thành viên cộng đồng là đồng sở hữu đối với rừng, chia sẻ các quyền và nghĩa vụ trong việc hưởng lợi ích cũng như trách nhiệm bảo vệ rừng); v) Cộng đồng bản địa/bộ lạc (Đây là một nhánh của sở hữu tư nhân. Theo đó, rừng thuộc sở hữu của cộng đồng người bản địa hoặc bộ lạc); vi) Các chủ sở hữu khác ngoài các chủ thể trên. Khái niệm trên đã được nhiều quốc gia kế thừa để giải nghĩa về chủ thể có quyền sở hữu đối với rừng hay còn gọi là chủ rừng.
Khoản 9, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã đưa ra định nghĩa về chủ rừng như sau: “Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; 10 giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát triển rừng; nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp luật”. Thứ ba, đối với rừng sản xuất: Luật Lâm nghiệp năm 2017 không đưa ra giải nghĩa về rừng sản xuất mà chỉ quy định rừng sản xuất là một trong ba loại rừng bên cạnh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (Điều 5 Khoản 1); và mục đích của rừng sản xuất là cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng (Điều 5 khoản 4). Mặc dù không có giải nghĩa thế nào là rừng sản xuất, nhưng tại Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp đã đưa ra những tiêu chí để xác định rừng sản xuất. Theo đó, rừng sản xuất là rừng đạt tiêu chí về rừng tự nhiên, rừng trồng nhưng không thuộc tiêu chí của rừng đặc dụng và rừng phòng hộ (Điều 8 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP).
Như vậy theo cách quy định này, rừng sản xuất có thể là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng. Tuy nhiên, theo Điều 7 Luật Lâm nghiệp năm 2017, rừng tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Như vậy, từ các dữ liệu trên, có thể hiểu một cách khái quát nhất về chủ rừng sản xuất dưới góc độ quy định của pháp luật Việt Nam là: Các chủ thể theo quy định tại Điều 8, Luật Lâm nghiệp năm 2017 được Nhà nước giao rừng sản xuất, cho thuê rừng sản xuất; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng sản xuất; tự phục hồi, phát triển rừng; nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp luật. Trong đó, rừng sản xuất đáp ứng tiêu chí theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP.
Đặc điểm Thứ nhất, chủ rừng sản xuất gồm nhiều chủ thể: Điều 8 Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định cụ thể về chủ rừng bao gồm 7 đối tượng như sau: 1). Ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ; 2). Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp sở hữu của 11 Nhà nước đối với rừng tự nhiên, rừng trồng do Nhà nước đầu tư toàn bộ và rừng trồng do Nhà nước thu hồi, được tặng cho hoặc trường hợp chuyển quyền sở hữu rừng trồng khác theo quy định của pháp luật; 3). Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao rừng (sau đây gọi là đơn vị vũ trang); 4).
Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp; 5). Hộ gia đình, cá nhân trong nước; 6). Cộng đồng dân cư; 7). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất.
Thứ hai, các chủ thể để trở thành chủ rừng sản xuất phải đáp ứng các điều kiện nhất định về năng lực. Điều kiện để trở thành chủ rừng đối với mỗi loại đối tượng chủ thể cũng có nhiều điểm không giống nhau. Trước hết họ phải thuộc một trong các nhóm đối tượng được tại Điều 8, Luật Lâm nghiệp năm 2017 (trừ Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được thành lập sau khi giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng). Điều kiện bắt buộc là phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, cấp quyết định giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng căn cứ trên dự án đầu tư về lâm nghiệp được phê duyệt theo pháp luật về đầu tư (đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài), khu vực sinh sống tại địa phương có rừng (thường áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân) hoặc nhu cầu sử dụng vào mục đích kinh doanh (đối với tổ chức kinh tế), nghiên cứu (đối với tổ chức nghiên cứu khoa học), lí do an ninh quốc phòng (đối với đơn vị vũ trang nhân dân).
Khi hoàn thành các thủ tục cần thiết họ sẽ trở thành chủ rừng và được công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Thứ ba, chủ rừng sản xuất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Pháp luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất. Hay nói cách khác, pháp luật đặt ra giới hạn cho chủ thể rừng sản xuất trong việc thụ hưởng quyền cũng như trách nhiệm trong việc phải thực hiện các nghĩa vụ cụ thể.
Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất không nằm ngoài quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng được quy định tại Điều 73 và Điều 74 Luật Lâm nghiệp năm 2017. Khái niệm và đặc điểm quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất 1. Khái niệm Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng sản xuất gắn với địa vị pháp lý của chủ rừng sản xuất theo quy định của pháp luật. Hay nói cách khác, quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ rừng sản xuất do Nhà nước quy định hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ rừng sản xuất với tư cách là một chủ thể của quan hệ pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp có thể hiểu bao gồm các nội dung sau: Quyền của chủ rừng sản xuất là cách xử sự mà chủ rừng sản xuất có thể tiến hành theo quy định của pháp luật.