Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên internet. Chương 2: Pháp luật nƣớc ngoài, pháp luật Việt Nam về tự do ngôn luận trên internet và thực tiễn về quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam qua phân tích, bình luận một số vụ việc điển hình. Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên internet. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN INTERNET 1.
Khái niệm và các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận 1. Khái niệm về quyền tự do ngôn luận Tự do ngôn luận là một quyền con ngƣời cơ bản, có vai trò quan trọng đối với mọi cá nhân và các xã hội dân chủ. Trong lịch sử, quyền tự do này đã sớm đƣợc các nhà tƣ tƣởng, các nhà lập hiến, lập pháp các quốc gia bảo vệ. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế cũng quan tâm bảo vệ quyền dân sự thiết yếu này chu[4; tr.
Nhiều ngƣời cho rằng, nếu không có quyền tự do ngôn luận, thì nhiều quyền con ngƣời cũng không thể thực hiện đƣợc. Khái niệm tự do ngôn luận có thể đƣợc tìm thấy trong các văn kiện chính trị - pháp lý quốc tế từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Bộ luật về quyền (Bill of Right) của Vƣơng Quốc Anh ngay từ năm 1680 đã quy định hiến định về tự do ngôn luận và còn nguyên giá trị tới ngày nay. Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định tự do ngôn luận nhƣ là một quyền cố hữu của con ngƣời.
Điều 11 của Tuyên ngôn này khẳng định “Trao đổi tự do các ý tưởng và quan điểm là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Mọi người đều có quyền được nói, viết, in ấn tự do; đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận” [3,tr. Về mặt nội hàm, một số nhà lập pháp và học giả cho rằng, tự do ngôn luận là một quyền đa diện và đa chiều (a multi-faceted right), vốn không chỉ bao gồm quyền biểu đạt, hay đƣợc phổ biến, chia sẻ thông tin và ý tƣởng mà còn bao gồm ba khía cạnh đặc trƣng sau đây: (1) Quyền tìm kiếm thông tin và ý tƣởng; (2) Quyền tiếp nhận thông tin và ý tƣởng; (3) Quyền đƣợc phổ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biến thông tin và ý tƣởng. Nhƣ vậy, tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết với các quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu đạt (freedom of expression) đôi khi còn đƣợc dùng để đề cập đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằng cách sử dụng phƣơng tiện truyền thông nào [3,tr.
Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận là quyền trình bày ý kiến một cách mạch lạc, rõ ràng của một ngƣời nào đó mà không sợ sự trả thù hoặc kiểm duyệt của chính quyền, hay chịu sự trừng phạt của xã hội. Thuật ngữ này đồng nghĩa với tự do biểu đạt/diễn đạt hoặc tự do thể hiện đôi khi còn đƣợc dùng để nói đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, quan điểm, bất kể bằng cách sử dụng phƣơng tiện truyền thông nào https://vi.org/wiki/T%E1%BB%B1_do_ng%C3%B4n_lu%E1%BA %ADn. Về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận đƣợc thừa nhận là một quyền con ngƣời trong Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và còn đƣợc ghi nhận tại Điều 19 Công ƣớc Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, Điều này quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”.
Tuy nhiên, cần thấy rằng theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do ngôn luận là một loại quyền tự do (liberty rights) và là một loại tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con ngƣời. Mặc dù có thể có nhiều quan điểm khắc nhau về nguồn gốc hình thành của quyền con ngƣời, nhƣng theo tác giả thì quyền cơ bản của con ngƣời, trong đó có quyền tự do ngôn luận có nguồn gốc từ khi con ngƣời sinh ra và tồn tại mà không phụ thuộc vào hệ thống 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật của bất kỳ quốc gia nào. Cho dù hầu hết các hệ thống pháp luật ngày nay đều thể hiện các quyền con ngƣời cơ bản nhƣng điều đó chẳng qua là sự ghi nhận lại các quyền vốn có này. Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948) cũng đã nêu “….thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời mọi thành viên trong gia đình nhân loại”, rồi trong Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ (1976) cũng đã nêu “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.
Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc …”. Từ đó cho thấy rằng tự do ngôn luận là một quyền tự do có yếu tố tự nhiên, vốn có và quan trọng của con ngƣời cần đƣợc bảo đảm, bảo vệ. Từ những luận điểm nêu trên, theo tác giả có thể hiểu một cách chung nhất, tự do ngôn luận là một quyền cơ bản của con ngƣời, đó là quyền tự do thể hiện ý chí, quan điểm của mình và tự do tìm kiếm, tiếp nhận, truyền đạt thông tin, ý tƣởng. Các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận Tự do ngôn luận là một quyền đa diện bao gồm không chỉ là quyền đƣợc biểu đạt hay phát tán thông tin và tƣ tƣởng, mà còn bao gồm ba khía cạnh sau: quyền tìm kiếm thông tin và tƣ tƣởng, quyền tiếp nhận thông tin và tƣ tƣởng, quyền chia sẻ thông tin và tƣ tƣởng.
Về các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận cũng rất phong phú, đó có thể là sự tiếp nhận và truyền đạt thông tin bằng lời nói (tại các hội thảo, cuộc họp, tọa đàm, phỏng vấn…), bằng bản viết, bản in hay qua các hình thức nghệ thuật nhƣ múa, kịch, sân khấu, các tác phẩm văn học nghệ thuật; có thể đƣợc truyền thông trực tiếp qua báo chí, truyền thanh và truyền hình, mà chúng còn thƣờng đƣợc trình bày trong các loại hình nghệ thuật: tiểu thuyết, thi ca, điện ảnh, biếm họa, và ca từ… Con ngƣời có rất nhiều hình thức để biểu đạt quan điểm, tƣ tƣởng hay cảm xúc của mình. Có những 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biểu đạt bằng cơ thể, thông qua khuôn mặt, mắt, chân, tay, ngón tay. Cũng có những biểu đạt thông qua giọng nói, tiếng nói… Trong nhiều tình huống, sự im lặng cũng là một cách biểu đạt. Các hình thức biểu đạt của quyền tự do ngôn luận có thể đƣợc thực hiện thông qua bất kỳ phƣơng tiện thông tin đại chúng nào, nhƣ: báo chí, phát thanh, truyền hình hay trên phƣơng tiện internet.
Quyền tự do ngôn luận thƣờng không phải là một vấn đề có liên quan đến các hoạt động riêng tƣ, hƣớng nội, mà liên quan đến các hoạt động truyền thông đại chúng, hƣớng ngoại nhƣ: nói, viết ra một quan điểm, suy nghĩ về một vấn đề chính trị, tôn giáo, quan điểm sống, công bố một quyển sách, một bài thơ, một bài báo, hay một bức ảnh, phát sóng một chƣơng trình phát thanh hay truyền hình, sáng tác và triển lãm một tác phẩm nghệ thuật, đọc một bài diễn văn trong một cuộc mít-tinh chính trị, hay có thể là đăng tải một bài phát biểu trên nhật ký web (weblog), mạng xã hội hay thu âm vào một hệ thống podcast…[31]. Trong đó Internet trở thành một công cụ, phƣơng tiện quan trọng để thực hiện các quyền tự do ngôn luận với nhiều hình thức đa dạng khác nhau từ nói, viết, chia sẻ thông tin, tìm kiếm, tiếp cận thông tin, truyền bá thông tin, lƣu trữ thông tin, trao đổi, thảo luận. Khái niệm quyền tự do ngôn luận trên internet 1. Khái niệm và đặc điểm của mạng internet a.
Khái niệm mạng internet Tiền thân của mạng internet ngày nay là mạng arpanet. Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ liên kết bốn địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên đƣợc xây dựng. Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974.
Lúc đó mạng vẫn đƣợc gọi là arpanet. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức đƣợc coi nhƣ một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với arpanet phải sử dụng chuẩn mới này. Năm 1984, arpanet đƣợc chia ra thành hai phần: phần thứ nhất vẫn đƣợc gọi là arpanet, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai đƣợc gọi là milnet, là mạng dùng cho các mục đích quân sự [42]. Có thể hiểu một cách chung nhất và dễ hiểu nhất thì mạng internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể đƣợc truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính đƣợc liên kết với nhau.
Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã đƣợc chuẩn hóa (giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trƣờng đại học, của ngƣời dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu… [42]. Với những tiện ích riêng có của mình, hiện nay, internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại.