Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Luận văn phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo đảm quyền trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2014

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và phân loại trẻ em khuyết tật tại Việt Nam

Trẻ em khuyết tật là những trẻ em có khuyết tật về thể chất, trí tuệ, cảm xúc hoặc kết hợp nhiều khuyết tật, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và phát triển bình thường. Tình trạng khuyết tật có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân: di truyền, tai nạn, bệnh tật, hoặc những biến cố trong quá trình phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, số lượng trẻ em khuyết tật đang gia tăng do tác động của chiến tranh, ô nhiễm môi trường và thiếu các biện pháp phòng ngừa tốt. Việc phân loại chính xác các loại khuyết tật giúp xây dựng các chính sách và biện pháp hỗ trợ phù hợp, đảm bảo quyền trẻ em được bảo vệ toàn diện.

1.1. Định nghĩa trẻ em khuyết tật theo pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam định nghĩa trẻ em khuyết tật là những cá nhân chưa đủ 18 tuổi có khuyết tật vĩnh viễn hoặc lâu dài. Các quy định pháp lý xác định rõ các loại khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động, khuyết tật giác quan, khuyết tật trí tuệ và khuyết tật tâm thần. Mức độ khuyết tật được phân chia thành bốn cấp độ từ nhẹ đến nặng, nhằm xác định mức hỗ trợ và các quyền lợi cần được bảo đảm cho mỗi trẻ em.

1.2. Phân loại các loại khuyết tật và tác động đến đời sống

Các loại khuyết tật ảnh hưởng khác nhau đến sinh hoạt hàng ngày của trẻ em. Khuyết tật vận động hạn chế khả năng di chuyển; khuyết tật giác quan (mù, điếc) cản trở tiếp nhận thông tin; khuyết tật trí tuệ làm chậm phát triển nhận thức. Tác động này không chỉ ở mặt sinh lý mà còn gây ảnh hưởng tâm lý, xã hội, làm trẻ em khuyết tật dễ bị kỳ thị và cô lập trong cộng đồng.

II. Khung pháp luật bảo đảm quyền trẻ em khuyết tật

Việt Nam có hệ thống pháp luật toàn diện bảo vệ quyền trẻ em khuyết tật, bao gồm Hiến pháp, Luật Bảo vệ quyền trẻ em, Luật Người khuyết tật, và các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Pháp luật về quyền trẻ em khuyết tật đảm bảo các quyền cơ bản: quyền sống, quyền được giáo dục, quyền chăm sóc sức khỏe, quyền tham gia xã hội. Tuy nhiên, mặc dù khung pháp luật đã tương đối hoàn thiện, việc thực thi vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước, gia đình và cộng đồng.

2.1. Các văn bản pháp luật chính liên quan đến quyền trẻ em khuyết tật

Hiến pháp Việt Nam quy định bình đẳng và bảo vệ quyền người công dân bất kể tình trạng khuyết tật. Luật Bảo vệ quyền trẻ em năm 1991 (sửa đổi 2004) xác định các quyền cơ bản của trẻ em. Luật Người khuyết tật năm 2010 cung cấp các biện pháp bảo vệ cụ thể cho nhóm này. Việt Nam cũng ký kết Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền của Trẻ em và Quyền của Người khuyết tật, cam kết bảo đảm quyền lợi của trẻ em khuyết tật.

2.2. Quyền cơ bản được bảo vệ theo pháp luật

Pháp luật đảm bảo quyền giáo dục giúp trẻ em khuyết tật phát triển toàn diện, quyền chăm sóc sức khỏe với dịch vụ y tế chuyên biệt, quyền tham gia xã hội và các hoạt động văn hóa. Trẻ em khuyết tật được bảo vệ khỏi bạo hành, lạm dụng và bóc lột. Các quyền này cần được thực hiện một cách hiệu quả để trẻ em khuyết tật có cuộc sống bình đẳng với các bạn cùng tuổi.

III. Thực trạng bảo đảm quyền trẻ em khuyết tật hiện nay

Mặc dù pháp luật đã có những quy định toàn diện, thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Đa số trẻ em khuyết tật sống trong điều kiện khó khăn, thiếu cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, dịch vụ y tế tốt và cơ hội việc làm trong tương lai. Kỳ thị xã hội, mâu thuẫn giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực thi, thiếu cơ chế giám sát và xử phạt hiệu quả, cùng với hạn chế về tài chính và nhân lực là những nguyên nhân chính gây nên tình trạng này.

3.1. Những khó khăn trong thực thi pháp luật

Thực thi pháp luật về quyền trẻ em khuyết tật gặp nhiều thách thức: thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ, nhân lực chuyên biệt còn hạn chế, tài nguyên phân bổ không đều giữa các vùng. Nhiều quyền được quy định trong pháp luật nhưng không được triển khai đầy đủ, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Khoảng cách giữa lý luận pháp luậtthực tế cần được thu hẹp thông qua các biện pháp cộng tác hữu hiệu.

3.2. Kỳ thị và định kiến xã hội đối với trẻ em khuyết tật

Kỳ thị xã hội vẫn là rào cản lớn nhất đối với trẻ em khuyết tật. Nhiều trẻ em bị cô lập, không dám tham gia các hoạt động công cộng vì sợ bị nhìn nhận tiêu cực. Định kiến rằng khuyết tật là sự yếu kém làm ảnh hưởng đến tự tin và phát triển tâm lý của trẻ. Đấu tranh chống lại những định kiến này đòi hỏi sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội.

IV. Giải pháp để cải thiện bảo đảm quyền trẻ em khuyết tật

Để bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật hiệu quả hơn, cần có sự phối hợp giữa nhà nước, gia đình và cộng đồng. Các giải pháp bao gồm: hoàn thiện pháp luật sao cho cụ thể hơn, tăng cường giáo dục công cộng nhằm thay đổi nhận thức xã hội, cấp vốn đầu tư cho các dịch vụ hỗ trợ trẻ em khuyết tật, đào tạo nhân lực chuyên biệt, xây dựng cơ chế kiểm soát và xử phạt vi phạm quyền. Quan trọng nhất là cần thực hiện tiếp cận theo lăng kính nhân quyền để đảm bảo trẻ em khuyết tật được tôn trọng và bình đẳng.

4.1. Hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế thực thi

Cần sửa đổi pháp luật để chi tiết hóa các quyền và trách nhiệm cụ thể, xây dựng quy chế thực thi rõ ràng, lập các tiêu chí đánh giá hiệu quả thực thi. Cần tạo cơ chế giám sát độc lập, xử phạt hành chính mạnh mẽ đối với những vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại mọi cấp độ.

4.2. Nâng cao nhận thức xã hội và huy động cộng đồng

Các chiến dịch giáo dục công cộng, truyền thông đại chúng cần được tăng cường để thay đổi định kiến và kỳ thị. Các tổ chức xã hội, gia đình phải tham gia tích cực vào việc bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật. Kích hoạt sự tham gia của chính trẻ em khuyết tật trong quyết định liên quan đến quyền của mình là bước tiến quan trọng.

28/12/2025
Luận văn bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong luật nhân quyền quốc tế, phần nội dung về quyển của các nhóm xã hội dễ bi tốn thương chiếm vị trí rất quan trọng. Kế từ khi Liên Hợp Quốc thành lập (1945), nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền đã được tổ chức này thông qua, trong đó có một số lượng ngay càng lớn văn kiện dễ cập dén quyén của các nhóm xã hội đễ bị tốn thương. Dây là các nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ o6 nguy ca cao hon trong việc bị bé quên hay bị vi phạm các quyền con người, bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng, đồng người khác.

Nhóm nay bao gồm: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người sống chưng với HIV, người đi tán hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người thiểu số, người lao động di trú. Trong đó, người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng được coi là một trong các nhỏm thiểu số lớn nhất trên thế giới và cũng lả một trong những nhóm dễ bị tốn thương nhất Quyền của người khuyết tật được pháp luật quốc tế ghỉ nhận, và ngày cảng được quan tâm đặc biệt. Tháng 11 năm 1989, Công ước về Quyền trẻ em được thông qua, đây là Công ước đầu tiên về quyền con người mả trong đó có dẫn chiếu cụ thể đến người khuyết lật, và có một điều riêng biệt về quyền và nhụ câu của trẻ em khuyết tật (Điều 23). Sau đó, hàng loạt các hướng dẫn, các quy tắc, cáckhuyén nghị về vấn đề nay được ban hành nhằm thúc day và bảo vé hơn nữa quyển của nhỏm người khuyết lật nói chung vả trẻ em khuyết tật nỏi riêng, quan trọng nhất là Công ước về quyên của những người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 03/2007 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đầu tranh cho quyển của những người khuyết tật trên thế giới Ở Việt Nam, người khuyết tật được hưởng tất cả các quyền công dan cơ bản, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa trên tình trạng khuyết tật của họ.

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định những đối xử ưu đãi với người khuyết tật, nhằm bù dắp những thiệt thòi của họ, cũng như để dam bao sự bình đẳng thực chất về các quyền và cơ hội với mọi công đân. Đặc biệt, Luật người khuyết tật năm 2010 vừa mới được thông qua, đã góp phần cai thiện đời sống người khuyết tật, làm thay dỗổi nhận thức xã hội về người khuyết tật, tạo môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi để người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, khuyến khich các tổ chức, cá nhân trơng và ngoài nước tham gia trợ giúp người khuyết tật Nhưng trên thực tế, xuất phát từ việc bản thân người khuyết tật bị hạn chế trong việc truyền tải nhu uầu, mong muốn của mình tới công đồng, xã hội, cũng như những cơ quan hoạch định chính sách, pháp luật, nên các quy định Nhà nước đưa ra thường dựa trên cơ sở suy đoán về mức độ suy giảm sức khốc của họ. Những suy đoán dó da phần chứa dựng yếu tố chủ quan nên nhiều khi không đáp ứng được như cầu, không phủ hợp với khả năng và chưa thực sự tạo điều kiện cho người khuyết Lậ. Bên cạnh đó, họ là đổi Lượng phải chịu những khó khăn rất lớn về mặt vật chất và tỉnh tbẫn, dẳng thời, tỉnh trạng, khuyết tật khiến họ đã và đang phải chịu những thiệt thôi trên tất cả các phương điện cúa đời sống xã hội mặc dù xét ở góc độ con người, tất cá sinh ra đều có những nhu cầu cơ bản giống nhau về sự tự do, bình đẳng, được tôn trọng phẩm giá, được cống hiến, được khẳng định giá trị cá nhân.

Đặc biệt, với những trẻ em khuyết tật, thì những khó khăn còn tăng lên đáng kể. Bởi trước hết, trẻ em nói chung vốn là đối tượng cần sit quan tam, chăm sóc, được lạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cả về thể chất lẫn tính thần. Tuy nhiên, với những trễ em mang trong mình nhiều thiệt thôi từ khi sinh ra như: đị tật bấm sinh; vĩnh viễn không nghe được âm thanh của bà - Bao cáo đánh giá (2009), Quyên của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam — bua luật pháp của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên liợp Quốc về Quyên của Người khuyết tật, tháng 12/2009, của Eric Rosenthal và Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thin thuc hiện theo yêu oầu của UNICEF Viét Nam. - Báo cáo của nghiên cứu viên về (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam, Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam, là xuất bản phẩm thứ 9 trong tập hợp các ấn phim duoc Quy din số Liên hợp Quốc (UNEPA) công bố vào 2011 - Báo cáo thường niền năm (2010), 2 hoạt động hỗ trợ người khugét tật Việt Nam, của Ban diều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam NCCL) - Báo cáo (2010) Phân tích tình hình trẻ em tại Vidi Nam, 2010 do NICIT xây dựng đưới sự cộng tác với Chính phủ Việt Nam về quyền trê em.

Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cửu về người khuyết tật khá phong phú, song so với yêu cầu thực tiễn thì còn khiêm tốn, chỉ dừng lại ở mức chung, khải quát nhất, chưa đi sâu vào các mảng cụ thể. Vi vậy, việc nghiên cứu vẫn dề Quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam trong thời diém hiện tại là hết sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Luận văn sẽ góp phần làm phong phú hơn nguồn tài liệu về lĩnh vực này, đồng thời, bố sung thêm kiến thức về đám báo quyền của người khuyết tật nói chung va của trẻ em khuyết tật nói riêng. Mục dịch và nhiệm vụ nghiên cứu 3.

Muc dich nghién cin - Nghiên cứu tổng quan vẻ tỉnh hinh trẻ em khuyết tật ở Việt Nam. - Dánh giá được thực trạng đảm báo quyền của trẻ em khuyết tật ở nước la hiện nay trong cáu khía cạnh xây dựng pháp luật, thực thị pháp luật, từ phỉa cộng đồng. Từ đó rút ra được các quyền mả trẻ em: khuyết tật đễ bị xâm phạm và ở qua trên thực tế w DANIIMUC CII’ VIET TAT CRC Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Raghts of the Childs) CRPD Công ước về quyền của người khuyết tật 2007 (Convention on the Rights of Persons with Disabilities} ICCPR. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Intemational Convenant on Civil and Political Rights) ICCSCR Công ước quốc tế áo quyền kinh tế ä hội và văn hóa 1996 (Tmemational Convenant ơn Eeonomio, 8oeial and Cultural Rights).

UDPHR Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal Declaration of Human Rights) DANIIMUC CII’ VIET TAT CRC Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Raghts of the Childs) CRPD Công ước về quyền của người khuyết tật 2007 (Convention on the Rights of Persons with Disabilities} ICCPR. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Intemational Convenant on Civil and Political Rights) ICCSCR Công ước quốc tế áo quyền kinh tế ä hội và văn hóa 1996 (Tmemational Convenant ơn Eeonomio, 8oeial and Cultural Rights). UDPHR Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal Declaration of Human Rights) 2. Thực trạng Báo đám một số quyền của tré em khuyẾt tật 2.1 Quyền được giáo dục 232 Quyền được hướng bảo trợ xã hồi 2343 Quyền được chăm sóc sức khảo 23.

Quyền được tham gia hoạt đông văn hóa, thể thao, giải trí.35 Quyển được tiếp cận cơ sở hạ tầng. dịch vụ công công, 1. Thục trạng bảo đảm quyên của trẻ em khuyết tật trong cộng đồng 2. Hạn chế Tiểu kết Chương 2 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐÂM QUYEN CUA TRE EM KHUYET TAT 3.

Phương hướng Bão đảm quyền của trẻ em khuyết tật. 311 Thể chế hóa quan diễm, chính sách của Đáng và Nhà nước về trẻ em khuyết tật. - - Khắc phục những hạn chế trong quá trình bảo đâm quyền của trẻ cm khuyết tật.3 Tăng cường hoạt động tuyên truyền về trẻ em khuyết tật trong cộng đồng 3. Tích cựu, chú động hợp Láo và đối thoại quốc Lễ 3.

Giải pháp Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật .1 Về xây dựng pháp luật 3.22 Về một số quyền cụ thể 3.3 Về phía cộng đồng.4, Về phía bản thân trẻ khuyết tật. Tiêu kết chương 3 KẾT LUẬN. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO thì quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương nói chung và quyền của người khuyết tật nói riêng cũng nhận được nhiều chú ý, các công trình nghiên cứu về vấn đề nảy cũng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Tiền cạnh đỏ, trẻ cm cũng là chủ dễ đã dược nghiên cứu từ rất lâu, với nhiều công trình đưới các hình thức như giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo, luận án, luận văn, bải báo, các buỗi hội tháa.

nhằm mục đích tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ lợi ích vả quyển của trẻ em trong phạm vi quốc gia và cộng đồng quéc tế. Tuy nhiên, cá nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở mức độ chưng, khải quát về nhóm người khuyết tật hoặc nhóm trẻ em. Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trinh nào nghiên cứu cụ. thể, toàn điện, di sâu về lĩnh vực Bão đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam dưới góc độ quyển con người nhìn từ chỉnh sách đến thực tiễn thị hành.

Ở nước ta, trong những năm qua, có một số công trình liên quan nghiên cứu về Quyền của người khuyết tật, tiêu biểu như sau - Khoa Luật, Dại học quốc gia Hà Nội (2011), Luật guốc tê về quyền của các nhỏm người đễ bị tôn thương, Nxh Lao động — xã hội - Hoàng Thị Kim Qué (2010), Chủ nhiém dé tai, “Hoan thiện pháp luật tê bảo đảm quyền của các nhóm xế hội dễ bị tôn thương”, Đề tài nghiên cứu. khoa học, Khoa Tuật, ĐHQG Hà Nội. - Lê Bạch Dương Dặng Nguyễn Anh Khuất Thu Hồng Lê Hoài Trung — Robert Leroy Bach (2005), đáo trợ xã hội cha những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, Nxb Lhễ giới - Iã Đỉnh Bổn Phó Vụ trưởng vụ Pháp chế - Bộ Lao động thương bình và xã hội, Hội đồng phối hợp công tác phố biển, giáo dục pháp luật của Chính phủ, Đặc san (2010), “Tuyên truyền pháp luật, (số 05), Chủ đề: Luật ngwoi khuyét rar”, Tà Nội. Thực trạng Báo đám một số quyền của tré em khuyẾt tật 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ