chương 1 này như sau: (1) Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC trong luật tố tụng hình sự; (2) cơ sở xác lập và bảo đảm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC; (3) chủ thể thực hiện quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC, (4) bảo đảm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC và các yếu tố ảnh hưởng; (5) quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC trong luật tổ tụng hình sự một số nước trên thế giới. Khái niệm, đặc điêm và vai trò của quyên thu thập, đưa ra chứng cứ của ngưòi bào chữa 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm và những dấu hiệu cơ bản của quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC trong vụ án hình sự, đến nay tuy đã có được đề cập trong sách báo pháp lý nhưng có rất ít các công trình nghiên cứu về mặt lý luận quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC trong tố tụng hình sự một cách toàn diện. Tác giả nhận thấy, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra cho được định nghĩa khoa học của khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của NBC trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự.
Trước khi đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ cùa NBC trong vụ án hình sự là gì? Theo logic của vấn đề, chúng ta cần tìm hiểu các khái niệm. - Khái niệm bào chữa và ngưòi bào chữa Bào chữa là gì? Trước hết theo tiếng anh - excuses, có nghĩa là “lời bào chữa”. Theo từ điền tiếng việt thì động từ Bào chữa là dùng nhiều lí lẽ, chứng cớ đế bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự trước tòa án hoặc việc nào đó đang bị lên án [11, tr. 47]; Người bào clỉữa là ai? Người bào chữa hay bào chừa viên là thuật ngữ chỉ về những người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt thân chủ tham gia tố tụng trong một vụ án hình sự đế biện hộ, bảo vệ cho thân chù của mình để chổng lại sự buộc tội, truy tố hoặc một sự tố cáo, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ án hình sự [41], Theo quy định của điều 72 BLTTHS năm 2015: 1.
Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký 11 bào chừa. Người bào chữa có thê là: a) Luật sư; b) Người đại diện của người bị buộc tội; c) Bào chữa viên nhân dân; d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Như vậy, chì có những người được quy định trên đây mới là người bào chữa. - Khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ Khái niệm quyền là gì? Quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế [42], Trong khoa học pháp lý, theo định nghĩa chung nhất thì quyền là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cân, hạn chế.
Phân loại quyền gồm có: (i) Quyền đương nhiên như quyền làm người, quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, (ii) Quyền do luật pháp cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm (quyền pháp lý), (iii) Quyền do điều lệ của tố chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng cho phép hội viên được làm. (iv) Quyền do người khác úy quyền. Một công trình khoa học đã nghiên cứu về quyền của một trong những NBC là luật sư trong hoạt động TTHS có định nghĩa: Quyền của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự là những hành vi mà luật sư được làm hoặc bắt buộc phải làm hay không được làm trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để bảo đăm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bị hại, đương sự, góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án [4, tr. - Thu thập chứng cứ Thu thập theo từ điển tiếng Việt là góp nhặt và tập hợp lại [11, tr.
1213] và chứng cứ là gì? trước hết theo tiếng anh - evidence có nghĩa là chứng cứ. Theo định nghĩa của từ điển Oxford thì danh từ evidence là “the facts, signs 12 or objects that make you believe that something is true [39] - các sự kiện, dâu hiệu hoặc đối tượng khiến bạn tin rằng điều gì đó là sự thật”. Còn theo từ điển tiếng Việt thì chứng cứ là cái cụ thể tỏ rõ điều gì đó là có thật [11, tr. 242], Theo quy định tại điều 86 BLTTHS năm 2015 thì: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Vấn đề thu thập chứng cứ của Luật sư, NBC trong các công trình nghiên cứu khoa học trước đây như: (1) Nguyễn Thị Huyền Trang (2020): Thu thập chứng cứ của người bào chữa là quá trình phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản chứng cứ do người bào chữa thực hiện bằng các biện pháp được pháp luật cho phép góp phần làm sáng tỏ bàn chất vụ án và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo [19, tr. 8], Gần hơn nữa, (2) là công trình nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cử của Luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của tác già Nguyễn Thị Bích Hạnh (2019) đã đưa ra định nghĩa về thu thập chứng cứ: Hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự là việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản các thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội theo quy định của pháp luật nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ [5, tr. Và (3) Hoạt động thu thập chứng cứ cũng được đề cập đến trong bài viết của Nguyễn Thế Hưng (2020): Hoạt động thu thập chứng cứ là một hoạt 13 động của chủ thê chứng minh phát hiện, thu giữ, bảo quản các thông tin, tư liệu liên quan đến vụ án theo các trình tự, thủ tục mà pháp luật hình sự quy định [20, tr. 219-221], - Đưa ra chứng cứ Khái niệm “đưa ra” là gì? “đưa ra” là tù’ được ghép tù' “đưa” và từ “ra” theo từ điển tiếng Việt thì “từ” đưa được hiểu chung nhất là trao trực tiếp cho người khác và từ “ra” được hiểu là di chuyển đến một vị trí ờ ngoài [11, tr.
2447], Nếu thu thập chứng cứ là khâu đầu tiên của chuỗi các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án hình sự thì đưa ra chứng cứ có thể được xem là khâu sau cùng trong chuồi hoạt động đó. Từ phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về đưa ra chứng cứ như sau: Đưa ra chứng cứ là hành động của người bào chữa đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật một cách chính thức và trực tiếp cho Cơ quan có thẩm quyền tiến hành to tụng đê bào chữa, bảo vệ cho người bị buộc tội. - Chứng minh trong tố tụng hình sự Khái niệm chứng minh là gì? hiểu theo nghĩa chung nhất là làm cho thấy rõ là có thật, và là dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng [11, tr. Langbein thì chứng minh là công việc chính của cơ quan pháp luật giải quyết các vấn đề của thực tế đã xảy ra trong quá khứ [25], Vì vậy, việc tìm kiểm những gì đã xảy ra trong quá khứ đế chứng minh cho sự thật sẽ có thể cho kết quả hoàn toàn khác nhau khi việc thu thập các dừ liệu của vụ án được sap xếp và tiến hành ở thái độ và cách thức khác nhau.
Việc chứng minh cho một vấn đề của vụ án hình sự hay sự kiện đã xảy ra trong quá khứ phải hoàn toàn tuân thủ và tôn trọng tuyệt đối quy luật khách quan, tuyệt đối cấm định hướng, bóp méo dữ liệu của vụ án theo nhận định chủ quan của người thu thập. Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên cơ quan có 14 thẩm quyền THTT chỉ dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết của vụ án. Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội ở nội dung Chứng minh trong tố tụng hình sự đã đưa khái niệm quá trình chứng minh “tó quá trình tư duy logic và thực tiền của CO’ quan và người tiến hành tổ tụng trên Cơ sở các quy định của pháp luật tổ tụng hĩnh sự đê thu thập, kiêm tra, đánh giá chứng cứ nhằm giải quyết vụ án” [20, tr. Nội dung của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tư liệu liên quan và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự (chứng cứ).
Cả ba hoạt động này là thống nhất, liên quan chặt chẽ với nhau, bố trợ cho nhau đảm bảo cho quá trình nhận thức về vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan [20, tr. Khái niệm quyền thu thập, đưa ra chúng cứ của người bào chữa Việc xây dựng định nghĩa pháp lý về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng trong nhận thức khoa học cũng như về mặt thực tiễn đối với việc bảo vệ quyền con người trong TTHS. Từ phân tích ở các mục trên bao gồm: người bào chữa, thu thập chứng cứ và đưa ra chứng cứ cho thấy quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong tố tụng hình sự là đối tượng nghiên cứu quan trọng trong luật tổ tụng hình sự nước ta và cũng là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này.