Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất Của Hộ Gia Đình và Cá Nhân: Thực Trạng và Hướng Hoàn Thiện

Chuyên khảo phân tích Luận văn quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân thực trạng và hướng hoàn thiện, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Chuyên ngành

Quản Trị - Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2021

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN VỀ QUYỀN TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

1.1.1. Khái niệm quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

1.1.2. Đặc điểm của quyền tặng cho quyền sử dụng đất

1.1.3. Ý nghĩa của quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

1.1.4. Nội dung pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

1.1.4.1. Điều kiện để hộ gia đình, cá nhân có quyền tặng cho quyền sử dụng đất
1.1.4.2. Điều kiện để hộ gia đình, cá nhân thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất

2. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

2.1. Thực trạng pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất Tại Việt Nam

Quyền tặng cho quyền sử dụng đất là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam. Quyền này không chỉ thể hiện sự tự do trong giao dịch mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, thực trạng áp dụng quyền này vẫn còn nhiều bất cập, cần được nghiên cứu và hoàn thiện.

1.1. Khái Niệm Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất

Quyền tặng cho quyền sử dụng đất được hiểu là quyền của hộ gia đình, cá nhân trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác mà không cần bồi hoàn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển nhượng tài sản đất đai giữa các cá nhân.

1.2. Đặc Điểm Của Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất

Quyền tặng cho quyền sử dụng đất có những đặc điểm riêng biệt như tính tự nguyện, không có sự bồi hoàn và phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch.

II. Thực Trạng Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất Tại Việt Nam

Thực trạng quyền tặng cho quyền sử dụng đất hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng, nhưng việc thực hiện quyền này vẫn gặp nhiều khó khăn, từ khâu công chứng đến việc thực hiện hợp đồng.

2.1. Những Khó Khăn Trong Việc Thực Hiện Quyền Tặng Cho

Nhiều hộ gia đình và cá nhân gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất do thiếu thông tin và hiểu biết về quy trình pháp lý. Điều này dẫn đến việc nhiều giao dịch không được thực hiện đúng quy định.

2.2. Phân Tích Thực Trạng Áp Dụng Pháp Luật

Phân tích thực trạng cho thấy rằng nhiều quy định pháp luật về quyền tặng cho quyền sử dụng đất chưa được áp dụng hiệu quả. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp cải thiện để đảm bảo quyền lợi cho người dân.

III. Hướng Hoàn Thiện Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất

Để nâng cao hiệu quả của quyền tặng cho quyền sử dụng đất, cần có những biện pháp hoàn thiện pháp luật và quy trình thực hiện. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người dân mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

3.1. Đề Xuất Cải Cách Pháp Luật

Cần có những cải cách pháp luật nhằm đơn giản hóa quy trình tặng cho quyền sử dụng đất, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc thực hiện quyền này.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo và Thông Tin

Tăng cường công tác đào tạo và cung cấp thông tin cho người dân về quyền tặng cho quyền sử dụng đất sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong giao dịch.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất

Việc áp dụng quyền tặng cho quyền sử dụng đất trong thực tiễn đã mang lại nhiều lợi ích cho hộ gia đình và cá nhân. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả của quyền này.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Quyền Tặng Cho

Nghiên cứu cho thấy rằng quyền tặng cho quyền sử dụng đất đã giúp nhiều hộ gia đình cải thiện điều kiện sống và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Thực Tiễn

Các bài học từ thực tiễn cho thấy rằng việc thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất cần phải được quản lý chặt chẽ hơn để tránh tình trạng lạm dụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.

V. Kết Luận Về Quyền Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất

Quyền tặng cho quyền sử dụng đất là một vấn đề pháp lý quan trọng, cần được nghiên cứu và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Việc cải thiện quy định pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng quyền này trong xã hội.

5.1. Tương Lai Của Quyền Tặng Cho

Tương lai của quyền tặng cho quyền sử dụng đất phụ thuộc vào sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật và khả năng thực thi của các cơ quan chức năng.

5.2. Đề Xuất Hướng Đi Mới

Cần có những đề xuất hướng đi mới trong việc quản lý và thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân và phát triển bền vững.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUYỀN TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm quyền tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân 1.1 Hộ gia đình, cá nhân Đối tượng nghiên cứu của đề tài hướng đến một trong những chủ thể có quyền 12 tặng cho quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân theo pháp luật đất đai hiện hành. Việc có cái nhìn rõ nét hơn về một vài phương diện pháp lý liên quan đến cá nhân và hộ gia đình, đặc biệt định nghĩa “thế nào là hộ gia đình” trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc gia là điều rất cần thiết. 13 Luật Đất đai 2013 có ghi nhận định nghĩa về hộ gia đình sử dụng đất , thông qua đó rút ra được các đặc điểm của đối tượng này như sau: (1) “những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình”; (2) “đang sống chung”; (3) “có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

Như vậy, chỉ khi thoả mãn được cả 03 (ba) đặc điểm kể trên thì mới được xem là hộ gia đình sử dụng đất – một trong những chủ thể có quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai. Trong Bộ luật Dân sự 2015 (sau đây gọi tắt là BLDS 2015) thì không có khái niệm rõ ràng về hộ gia đình, chỉ quy định rằng: “Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự 14 tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai”. Về tài sản chung của hộ gia đình được quy định như sau: “Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy 15 định tại Điều 212 của Bộ luật này”. Về nghĩa vụ dân sự của các thành viên trong hộ gia 16 đình thì: “được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên”.

Đối với giao dịch dân sự của “thành viên không có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh các thành viên khác của hộ gia đình” thì hậu quả pháp lý phát sinh áp dụng theo Điều 130, 142 và 143 của BLDS 2015; còn giao dịch dân 12 Điều 5 khoản 2 Luật Đất đai 2013 13 Điều 3 khoản 29 Luật Đất đai 2013 14 Điều 101 khoản 2 Bộ luật Dân sự 2015 15 Điều 102, khoản 1 Bộ luật Dân sự 2015 16 Điều 103 khoản 1 Bộ luật Dân sự 2015 7 sự của “bên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện mà gây thiệt hại cho thành viên khác của hộ gia đình” thì “phải bồi thường cho người 17 bị thiệt hại”. Đối với cá nhân, đây là một chủ thể phổ biến trong giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự về đất đai nói riêng. Dưới góc độ pháp lý có một số vấn đề cần được làm rõ liên quan đến chủ thể là cá nhân như sau: Thứ nhất, mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật, do đó “không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền 18 nhân thân và tài sản”. Điều này có nghĩa là sự bảo vệ của pháp luật đối với cá nhân về quyền lợi hợp pháp của mỗi người là như nhau, không bị ảnh hưởng bởi địa vị xã hội, văn hóa, tín ngưỡng,… và tất nhiên, mỗi cá nhân cũng cần phải ý thức tuân thủ nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai, đảm bảo “tính tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” và “thiện chí, 19 trung thực” của cá nhân trong toàn bộ quá trình xác lập giao dịch dân sự. Có thể nói, yếu tố tự nguyện là một căn cứ vô cùng quan trọng khi tham gia giao dịch dân sự nói chung và giao dịch về đất đai nói riêng. Điều này được lý giải bởi vì nhà làm luật luôn khuyến khích các bên tích cực thỏa thuận một cách tự do để đạt được sự thống nhất chung, do đó không cho phép xuất hiện những hành vi cưỡng ép, cản trở trái ý muốn của bất kì ai. Nếu một trong các bên hoặc bên thứ ba khác có bằng chứng chứng minh giao dịch dân sự đã vi phạm yếu tố tự nguyện thì có thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án 20 tuyên giao dịch đó vô hiệu với thời hiệu khởi kiện là 02 (hai) năm.

Thứ ba, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội hay nói cách khác là “không được xâm phạm đến lợi ích 21 quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Như vậy, mặc dù nhà làm luật cho phép các bên thỏa thuận mọi vấn đề trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tự do, tuy nhiên vẫn đặt ra giới hạn để đảm bảo sự tự do ấy không đi ngược lại lợi ích cộng động hay xâm phạm các quan hệ xã hội khác được pháp luật bảo 17 Điều 104 Bộ luật Dân sự 2015 18 Điều 3 khoản 1 Bộ luật Dân sự 2015 19 Điều 3 khoản 2 khoản 3 Bộ luật Dân sự 2015 20 Điều 122; Điều 127; Điều 132 khoản 1 Bộ luật Dân sự 2015 21 Điều 3 khoản 4 Bộ luật Dân sự 2015 8 vệ. Quy định này đã góp phần không nhỏ trong việc hỗ trợ Nhà nước phát huy khả năng ngăn ngừa tình trạng các bên lợi dụng tính tự do thỏa thuận để biến nó trở thành công cụ vi phạm pháp luật. Thứ tư, cá nhân (cũng như từng thành viên trong hộ gia đình) khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự đều phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với từng loại giao dịch theo quy định của pháp luật.

Với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân thì nó “có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó 22 chết” , nghĩa là dù giao dịch dân sự phát sinh bởi ý chí của một bên hay nhiều bên (hành vi pháp lý đơn phương hay thỏa thuận) thì đều phải đảm bảo rằng người đó còn sống tại thời điểm xác lập giao dịch. Với năng lực hành vi dân sự của cá nhân, thì đó là “khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân 23 sự”. Trong đó, năng lực hành vi dân sự của một người là đầy đủ hay không đầy đủ sẽ được đánh giá dựa trên quy định của pháp luật, căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức thực tế và thậm chí là căn cứ vào quyết định của Tòa án. Theo đó, người được xem là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên và không thuộc trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay có khó khăn trong 24 nhận thức, làm chủ hành vi .2 Quyền sử dụng đất 25 Trong BLDS 2015 đã ghi nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền tài sản và 26 quyền tài sản là một loại tài sản , tại Luật Đất đai 2013 thì xác định quyền sử dụng đất 27 có thể được định giá bằng tiền , do đó quyền sử dụng đất chính là một biểu hiện của tài sản.

Thế nên việc tìm hiểu một số khía cạnh về tài sản nói chung là thực sự cần thiết trước khi đi sâu phân tích nội dung quyền sử dụng đất. Về “tài sản” (danh từ) – là một từ ngữ không quá xa lạ trong đời sống, được hiểu theo cách thông thường là những thứ hữu hình, tồn tại dưới một dạng vật chất nhất định mà con người có thể cảm nhận được. Dưới góc độ pháp lý, BLDS 2015 đã quy định như 22 Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015 23 Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 24 Điều 20; Điều 21; Điều 22; Điều 23 và Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 25 Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 26 Điều 105 khoản 1 Bộ luật Dân sự 2015 27 Điều 3 khoản 20 Luật Đất đai 2013 9 28 sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” và tùy theo từng tiêu chí mà tài sản có thể được phân loại khác nhau, cụ thể: Thứ nhất, dựa vào cấu trúc vật lý dẫn đến tình trạng không thể di dời được thì 29 tài sản được chia thành: bất động sản và động sản. Thứ hai, dựa vào sự tồn tại thực tế thì tài sản được chia thành: tài sản hiện có và 30 tài sản hình thành trong tương lai.

Thứ ba, dựa vào chế độ pháp lý thì tài sản được chia thành: tài sản phải đăng ký 31 quyền sở hữu và tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Bên cạnh đó BLDS 2015 cũng quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của 32 luật”. Dưới góc độ lý luận, khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là đối tượng mà các chủ thể quan tâm hướng đến, nhằm đạt tới hoặc tác động vào khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Như vậy, tài sản chính là khách thể của quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu vì nó thỏa mãn các dấu hiệu kể trên.

Về vấn đề đất đai nói chung – dưới góc độ pháp lý – một lần nữa được quy định tại điều khoản khác trong văn bản có “hiệu lực pháp lý cao nhất” rằng đó là “tài sản 33 công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Hay một cách định nghĩa đất đai cụ thể hơn: “là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện 34 tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi”. Rõ ràng, ở bất cứ văn bản pháp lý nào có nội dung liên quan đến đất đai cũng thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của nó trong định hướng quản lý của Nhà nước. Khái niệm “quyền” là một khái niệm khá trừu tượng, có thể hiểu nôm na là những gì một người có thể làm mà không phải chịu sự ngăn cấm của bất kì ai khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ