Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sở hữu là nội dung then chốt của chế độ kinh tế, giữ vai trò trực tiếp trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Trong lịch sử, tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội, mỗi quan hệ sản xuất là một kiểu sở hữu và phương thức sản xuất nhất định. Quyền sở hữu luôn chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống pháp luật của mọi nhà nước.
Tại Việt Nam, quyền sở hữu của công dân đã được ghi nhận từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 (Điều 12 khẳng định: "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm"). Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài, nền kinh tế vận hành dưới cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với sự tuyệt đối hóa vai trò của chế độ "công hữu" (gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể), dẫn đến nhận thức giản đơn, coi nhẹ sở hữu tư nhân và quyền sở hữu của cá nhân công dân.
Bước vào công cuộc Đổi mới từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được xác lập. Hiến pháp năm 1992 thể chế hóa quan điểm này tại Điều 15: "Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng", đồng thời ghi nhận quyền tự do kinh doanh và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của công dân (Điều 57 và Điều 58).
Thực tiễn chuyển đổi kinh tế đặt ra nhiều khó khăn và khoảng trống nghiên cứu cơ bản:
- Thứ nhất, rào cản nhận thức sau thời gian dài tuyệt đối hóa công hữu, đòi hỏi phải xác lập cơ sở lý luận khoa học về vai trò của sở hữu tư nhân và quyền sở hữu của công dân trong điều kiện mới.
- Thứ hai, sự thiếu hụt các công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ luật học về nội hàm quyền sở hữu của công dân, các hình thức pháp lý thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt là quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất và quyền tự do sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Thứ ba, khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn lập pháp: khi hàng loạt đạo luật kinh tế và dân sự ra đời (như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Đất đai năm 1993, Luật Phá sản doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995), công tác nghiên cứu lý luận chưa theo kịp để giải thích thỏa đáng các hiện tượng pháp lý mới (như quyền của người sử dụng đất, quyền tài sản của doanh nghiệp, sở hữu hỗn hợp, sở hữu uỷ quyền).
Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Quyền sở hữu của công dân ở Việt Nam" đáp ứng đòi hỏi cấp bách của cả công tác lý luận pháp lý lẫn thực tiễn thi hành pháp luật.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ khái niệm, nội dung quyền sở hữu của công dân, các hình thức pháp lý thực hiện quyền sở hữu và vai trò, vị trí của quyền này trong nền kinh tế nhiều thành phần; đồng thời phân tích quá trình điều chỉnh pháp luật, đánh giá thực trạng và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu của công dân nhằm bảo đảm quyền tự do, dân chủ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn liền với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ khái niệm, nội hàm của quyền sở hữu nói chung và quyền sở hữu của công dân nói riêng; xác định vị trí, vai trò, phạm vi quyền sở hữu của công dân trong cơ cấu sở hữu của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phân tích quá trình điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ sở hữu ở Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu; đánh giá mức độ ghi nhận quyền sở hữu của công dân trong hệ thống pháp luật qua từng giai đoạn cách mạng.
- Phân tích các hình thức thực hiện quyền sở hữu của công dân dưới góc độ thực hiện quyền tự do kinh doanh bằng tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Làm rõ mối quan hệ giữa yêu cầu phát triển khách quan với sự ghi nhận mặt pháp lý các hình thức sở hữu; chứng minh mối quan hệ biện chứng, duy vật lịch sử giữa pháp luật và kinh tế.
- Làm rõ các phương thức bảo vệ quyền sở hữu của công dân; đánh giá thực trạng pháp luật để đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội về sở hữu và quyền sở hữu của công dân; các quy phạm pháp luật, chế định pháp lý điều chỉnh quyền sở hữu của công dân và các hình thức thực hiện, bảo vệ quyền sở hữu đó trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Phạm vi không gian và thời gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật và quan hệ sở hữu tại Việt Nam từ năm 1945 (Hiến pháp 1946) đến giai đoạn ban hành Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993, Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995. Đồng thời, luận án khảo cứu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp và các học thuyết pháp lý về sở hữu tại Liên Xô, Trung Quốc và một số quốc gia tư bản phát triển (Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Italia).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Vấn đề sở hữu và quyền sở hữu đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu kinh tế, triết học và luật học, được luận án phân loại và tổng thuật theo các hướng chính:
| Hướng nghiên cứu / Nhóm tác giả |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung, đóng góp chính được trích dẫn |
| Nghiên cứu lý luận kinh tế - pháp lý thời kỳ đầu Đổi mới tại Việt Nam |
- Đề tài cấp Bộ của Viện Nhà nước và Pháp luật (1990): "Sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" - Lê Hữu Nghĩa: "Vấn đề sở hữu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội" - Lê Bàn Thạch: "Sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới ánh sáng của đường lối cải tổ, đổi mới" - Trần Trọng Hựu: "Cơ cấu sở hữu và cơ chế kinh tế - Những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn ở Việt Nam" - Lê Hồng Hạnh: "Bàn về quyền sở hữu của hộ cá thể" |
Phân tích cơ cấu sở hữu trong nền kinh tế chuyển đổi; lý giải sự tồn tại khách quan của sở hữu tư nhân và kinh tế hộ cá thể trong thời kỳ quá độ; bước đầu phân biệt khía cạnh kinh tế và khía cạnh pháp lý của sở hữu. |
| Nghiên cứu chuyên sâu về luật dân sự và quyền tài sản |
- GS. Lê Xuân Tùng (nhà kinh tế học) - PGS. PTS. Trần Trọng Hựu - PTS. Trần Đình Hảo: "Sở hữu và quyền tài sản" - PGS. TS. Đào Trí Úc: "Vấn đề quyền sở hữu theo luật dân sự" - PTS. Trần Thị Huệ Bình (luận án PTS) |
- Lê Xuân Tùng chỉ rõ vai trò của quan hệ quản lý và phân phối trong việc hiện thực hóa quyền sở hữu. - Trần Trọng Hựu đề xuất xây dựng chế định quyền sở hữu phức hợp, đa cơ cấu, nhiều cấp độ. - Đào Trí Úc luận giải tính khách quan và chủ quan của chế định quyền sở hữu. - Trần Đình Hảo và Trần Thị Huệ Bình làm rõ quyền tài sản, phân định quyền sở hữu nhà nước và quyền tài sản của pháp nhân doanh nghiệp. |
| Nghiên cứu tại các nước xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi |
- A. V. Venhediktov (nhà dân sự học Xô viết) - Chuyên đề: "Quyền sở hữu ở Liên Xô" (1990) - Phùng Khánh: "Bàn về quy luật phương hướng cải cách chế độ sở hữu Nhà nước" (Trung Quốc) - Tuyển tập san chuyên đề: "Cải cách kinh tế ở Trung Quốc" |
- Venhediktov đưa ra định nghĩa kinh điển về quyền sở hữu theo nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan trong luật học Xô viết. - Các công trình Trung Quốc và Đông Âu tập trung vào cải cách sở hữu nhà nước, phân cấp quản lý kinh tế và giải quyết quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cá nhân. |
| Học thuyết và pháp luật tại các nước tư bản |
- Tài liệu: "Vấn đề sở hữu trong lý luận pháp lý tư sản" (1980); "Luật dân sự của Liên Xô và của nước ngoài" (1989) - A. M. Honoré (Anh), L. Becker (Mỹ) - S. Pugliatti (Italia) - Các văn bản: Bộ luật Dân sự Napoléon (Điều 544), BLDS Sài Gòn 1972 (Điều 383), BLDS Nhật Bản (Điều 206), Đạo luật 1949 của Đức, Hiến pháp Ý 1947, Hiến pháp Tây Ban Nha 1978 |
Phân tích xu hướng chuyển đổi của vật quyền tư sản: từ tính chất "tuyệt đối" sang việc thừa nhận "chức năng xã hội" của sở hữu; sự phát triển của hệ thống 11 quyền năng theo trường phái Common Law (Honoré); sự chuyển dịch trọng tâm điều chỉnh từ bất động sản sang động sản và tài sản vô hình. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ phân tích phương pháp luận chung hoặc tiếp cận sở hữu thuần túy dưới góc độ kinh tế chính trị, chưa đi sâu vào các khái niệm và hình thức pháp lý cụ thể. Nhiều công trình còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm "hình thức sở hữu" với "hình thức thực hiện quyền sở hữu".
Đặc biệt, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về quyền sở hữu của cá nhân công dân trong mối liên hệ với quyền tự do kinh doanh và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đó dưới tác động của Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật Dân sự năm 1995. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống lý thuyết và khái niệm trung tâm bao gồm:
- Mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất: Sở hữu là nội dung cốt lõi của quan hệ sản xuất (gồm quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối). Pháp luật về sở hữu thuộc kiến trúc thượng tầng, bắt nguồn từ hạ tầng cơ sở và phản ánh các quan hệ kinh tế khách quan.
- Phân định "sở hữu" và "quyền sở hữu":
- Sở hữu là quan hệ kinh tế khách quan giữa người với người về việc chiếm giữ của cải vật chất.
- Quyền sở hữu là chế định pháp lý thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, thể chế hóa quan hệ kinh tế thành các quy phạm pháp luật.
- Quyền sở hữu theo nghĩa khách quan và chủ quan:
- Nghĩa khách quan: Là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
- Nghĩa chủ quan: Là các quyền năng cụ thể (khả năng xử sự) của chủ sở hữu đối với tài sản được pháp luật bảo vệ.
- Quyền sở hữu ở dạng "tĩnh" và dạng "động":
- Dạng tĩnh: Quyền chiếm giữ, làm chủ tài sản tại một thời điểm nhất định.
- Dạng động: Các hình thức pháp lý đưa tài sản vào lưu thông, tổ chức sản xuất kinh doanh, cho thuê, góp vốn liên doanh, phân phối lợi nhuận nhằm sinh lời.
- Cấu trúc quyền tài sản: Phân định giữa quan hệ vật quyền (quyền tuyệt đối đối với vật) và quan hệ trái quyền (quyền tương đối thông qua hành vi của người khác).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận bao trùm là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá sự phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu qua từng thời kỳ cách mạng Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992).
- Phương pháp phân tích quy phạm và lôgích hình thức: Phân tích nội dung các điều luật cụ thể trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Đất đai năm 1993, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 để làm rõ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật La Mã cổ đại, pháp luật lục địa (Civil Law), pháp luật thông luật (Common Law) và pháp luật các nước chuyển đổi (Nga, Trung Quốc).
- Phương pháp hệ thống và xã hội học pháp luật: Xem xét chế định quyền sở hữu trong mối quan hệ hữu cơ với toàn bộ hệ thống pháp luật (dân sự, kinh tế, hành chính, hình sự) và đời sống kinh tế - xã hội thực tiễn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (trọng tâm là Đại hội VI).
- Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992), Bộ luật Dân sự 1995, Luật Đất đai 1993, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995, Bộ luật Dân sự Sài Gòn 1972.
- Các văn bản pháp luật và án lệ, học thuyết nước ngoài (Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Ý, Tây Ban Nha, Liên Xô).
- Kỷ yếu từ 03 hội thảo khoa học (trong đó có Hội thảo quốc tế về pháp luật dân sự) và 03 lần hội thảo đóng góp ý kiến cho Dự thảo Bộ luật Dân sự do Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật tổ chức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền sở hữu của công dân
Chương 1 xây dựng khung lý luận nền tảng cho luận án thông qua 3 nội dung cơ bản:
1. Nhận thức luận về chế độ sở hữu và quyền sở hữu của công dân
Tác giả phân tích nguồn gốc kinh tế - xã hội và bản chất giai cấp của chế độ sở hữu dựa trên các tác phẩm kinh điển của C. Mác và Ph. Ăng-ghen (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước). Sở hữu không phải là một quan hệ biệt lập, trừu tượng hay vĩnh cửu, mà là phương thức phản ánh sự chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động của các giai cấp trong từng phương thức sản xuất.
Ph. Ăng-ghen đã khẳng định không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức mà phải tiến hành dần dần, tương ứng với mức độ phát triển của lực lượng sản xuất. Luận án phân tích sai lầm duy ý chí trong quá khứ khi áp dụng máy móc mô hình xóa bỏ sở hữu tư nhân để thiết lập chế độ công hữu tuyệt đối, đồng thời khẳng định việc thừa nhận kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội VI (12/1986) là sự quay trở lại đúng đắn với các quy luật kinh tế khách quan.
2. Quyền sở hữu và các hình thức pháp luật của việc chiếm hữu
Luận án phân định ranh giới giữa phạm trù kinh tế của sở hữu với chế định quyền sở hữu trong luật học:
- Phân tích quyền sở hữu dưới hai góc độ: quyền khách quan (hệ thống quy phạm do nhà nước ban hành) và quyền chủ quan (khả năng xử sự thực tế của chủ sở hữu).
- Phân tích nội hàm 3 quyền năng cơ bản trong luật dân sự:
- Quyền chiếm hữu: Khả năng nắm giữ, chi phối vật. Phân định rõ giữa chiếm hữu hợp pháp (theo Điều 190 BLDS: do chủ sở hữu tự thực hiện, ủy quyền, giao dịch dân sự, phát hiện tài sản vô chủ...) và chiếm hữu bất hợp pháp (gồm bất hợp pháp không ngay tình và bất hợp pháp ngay tình theo Điều 195 BLDS).
- Quyền sử dụng: Khả năng khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 198 BLDS).
- Quyền định đoạt: Quyền quyết định số phận thực tế (tiêu dùng, hủy bỏ) và số phận pháp lý (chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế) của tài sản.
- So sánh các trường phái lập pháp quốc tế:
- Trường phái tinh giản (Pháp, Đức, Ý): Điển hình như Puliatu coi quyền sở hữu thực chất quy về hai quyền năng (sử dụng và định đoạt), trong đó định đoạt là giới hạn cuối cùng của sử dụng.
- Trường phái Common Law (Anh, Mỹ): Điển hình là quan điểm của Honoré liệt kê 11 quyền năng của chủ sở hữu (quyền chiếm giữ; sử dụng trực tiếp; quản lý; hưởng thu nhập; định đoạt chuyển nhượng/tiêu hủy; an toàn không bị tước đoạt; chuyển dịch tài sản; tính vô thời hạn; nghĩa vụ cấm gây hại; trách nhiệm trả nợ; khả năng phục hồi quyền năng bị vi phạm) và quan điểm bổ trợ của Becker.
- Xu hướng hiện đại: Pháp luật tư bản mở rộng khách thể sở hữu sang đối tượng sinh học (mô tế bào, gen), thông tin điện tử, động sản tài chính; đồng thời giới hạn quyền của chủ sở hữu bất động sản đối với tài nguyên khoáng sản ngầm và quy định chức năng xã hội của tài sản.
3. Nội hàm quyền sở hữu của công dân
Luận án làm rõ khái niệm sở hữu của công dân trong quan hệ với các thuật ngữ: sở hữu cá nhân, sở hữu cá thể và sở hữu tư bản tư nhân.
- Sở hữu cá nhân: Hình thức chiếm hữu dựa trên phân phối thu nhập từ kết quả lao động trong khu vực nhà nước và tập thể, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt.
- Sở hữu cá thể: Chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm dựa trên lao động trực tiếp của chính bản thân người sản xuất hoặc hộ gia đình.
- Sở hữu tư bản tư nhân: Chiếm hữu tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê để thu lợi nhuận.
- Điều 220 Bộ luật Dân sự năm 1995 đã quy định: "Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân". Đây là bước tiến thể chế hóa quan trọng, thừa nhận quyền của công dân được sở hữu cả tư liệu tiêu dùng lẫn tư liệu sản xuất để thực hiện quyền tự do kinh doanh.
Chương 2: Nội dung quyền sở hữu của công dân trong pháp luật Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích tiến trình lịch sử lập pháp và các hình thức pháp lý cụ thể của quyền sở hữu công dân:
1. Quyền sở hữu của công dân trong quá trình điều chỉnh pháp luật các quan hệ sở hữu ở Việt Nam
Luận án hệ thống hóa quá trình lập pháp qua các bản Hiến pháp:
- Hiến pháp 1946: Đặt nền tảng bảo đảm quyền tư hữu tài sản của công dân (Điều 12).
- Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980: Ghi nhận quyền sở hữu nhưng thu hẹp phạm vi quyền sở hữu của cá nhân vào tư liệu sinh hoạt và hoa lợi hợp pháp, hạn chế sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất trong bối cảnh ưu tiên tuyệt đối cho sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
- Hiến pháp 1992: Đánh dấu sự đổi mới căn bản khi thừa nhận sự tồn tại bình đẳng, lâu dài của sở hữu tư nhân bên cạnh sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, khẳng định quyền bảo hộ tài sản và tư liệu sản xuất của công dân dùng trong kinh doanh (Điều 57, Điều 58).
2. Các hình thức pháp lý của việc thực hiện quyền sở hữu của công dân theo pháp luật hiện hành
Tác giả phân tích sự đa dạng của các hình thức pháp lý thực hiện quyền sở hữu trong nền kinh tế nhiều thành phần:
- Phân biệt giữa "chủ sở hữu" duy nhất đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân (Nhà nước) và "chủ thể thực hiện quyền sở hữu" ở các cấp độ khác nhau (công dân, hộ gia đình, doanh nghiệp). Ví dụ: Luật Đất đai năm 1993 xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng trao cho công dân quyền sử dụng đất ổn định lâu dài với các quyền năng tài sản cụ thể (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp).
- Làm rõ quyền sở hữu của công dân trong các mô hình doanh nghiệp: thành lập Doanh nghiệp tư nhân, góp vốn vào Công ty trách nhiệm hữu hạn, mua cổ phần trong Công ty cổ phần theo Luật Công ty, liên doanh với nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài.
- Phân tích các quyền năng phát sinh trong hợp đồng dân sự: quyền của người thuê nhà (Điều 494 BLDS quy định quyền nhận nhà, đổi nhà, cho thuê lại khi có sự đồng ý của bên cho thuê), quyền cầm cố tài sản, địa dịch và các quyền tài sản khác khi tài sản ở trạng thái vận động sinh lời.
Chương 3: Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu của công dân và hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu của công dân trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ và phương hướng lập pháp:
1. Bảo vệ quyền sở hữu của công dân
Luận án luận giải sự cần thiết phải thiết lập cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đồng bộ bằng các ngành luật:
- Phương thức bảo vệ dân sự: Bảo đảm quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu bất hợp pháp (Jus vindicandi), quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần theo các quy định của Bộ luật Dân sự (chương về bảo vệ quyền sở hữu, các điều 191, 192, 193, 199, 200, 203, 497).
- Phương thức hành chính và hình sự: Áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến tài sản công dân, bảo đảm cơ quan công quyền không lạm quyền thu giữ, trưng mua, trưng dụng tài sản trái pháp luật.
2. Vấn đề hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu của công dân
Tác giả đề xuất định hướng hoàn thiện hệ thống thể chế:
- Tiếp tục cụ thể hóa các quyền năng của người sử dụng đất theo Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự, bảo đảm an toàn pháp lý cho người tham gia giao dịch bất động sản.
- Hoàn thiện khung pháp lý về doanh nghiệp và đầu tư, xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho công dân đưa tài sản vào sản xuất kinh doanh.
- Xây dựng quy chế pháp lý chi tiết đối với các loại tài sản mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường (cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu trí tuệ, quyền yêu cầu về tài sản).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
Là một công trình chuyên khảo có hệ thống đầu tiên về quyền sở hữu của công dân tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường, luận án đã đạt được các kết quả khoa học mới:
- Quan niệm pháp lý mới về quyền sở hữu: Đặt quyền sở hữu của công dân trong mối liên hệ biện chứng với các quan hệ kinh tế khách quan của nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần; luận giải thỏa đáng tính hợp pháp và vai trò tích cực của sở hữu tư nhân trong thời kỳ quá độ mà không làm mất đi định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiếp cận quyền sở hữu ở trạng thái "động": Luận án chỉ ra rằng quyền sở hữu không chỉ tồn tại ở dạng "tĩnh" (chiếm giữ, định đoạt số phận vật lý của vật) mà thể hiện chủ yếu ở dạng "động" thông qua các hình thức pháp lý tổ chức sản xuất kinh doanh, quản trị, khai thác sinh lời và phân phối sản phẩm.
- Phân định rõ cấp độ chủ thể: Phân biệt ranh giới giữa chủ sở hữu tài sản (như Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với tài sản toàn dân) và chủ thể thực hiện quyền sở hữu (công dân, tổ chức được giao quyền sử dụng, quyền quản lý tài sản).
- Hệ thống hóa tiến trình điều chỉnh pháp luật: Tổng kết toàn diện lịch sử lập pháp Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1996 về quan hệ sở hữu, chỉ ra tính quy định của điều kiện kinh tế - xã hội đối với mức độ ghi nhận quyền sở hữu công dân.
Kiến nghị và giải pháp thực tiễn
- Đề xuất bổ sung, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 về cơ chế bảo vệ quyền sở hữu tuyệt đối và quyền tài sản tương đối trong hợp đồng.
- Kiến nghị hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1993 nhằm làm rõ bản chất pháp lý của "quyền sử dụng đất" như một loại quyền tài sản đặc thù có thể tham gia lưu thông dân sự hợp pháp.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án và các cơ quan thực thi pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Giới hạn nghiên cứu của luận án: Do tính chất rộng lớn và phức tạp của đề tài, trong khuôn khổ một luận án Phó tiến sĩ, tác giả tự giới hạn phạm vi vào việc giải quyết các vấn đề phương pháp luận chung, phân tích các quyền năng cơ bản theo Bộ luật Dân sự 1995 và một số hình thức pháp lý thực hiện quyền sở hữu công dân trong sản xuất kinh doanh tại thời điểm các luật mới được ban hành.
- Vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: Do thực tiễn lập pháp và hành pháp diễn ra mau lẹ, một số quy chế pháp lý đối với các khách thể sở hữu mới (như tài sản tài chính phi vật thể, quyền sở hữu trí tuệ công nghệ cao, cơ chế xử lý phá sản liên quan đến sở hữu cổ phần) đòi hỏi các công trình khoa học tiếp theo tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu khi nền kinh tế thị trường phát triển ở cấp độ cao hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ lý luận và thực tiễn để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về dân sự, kinh tế, đất đai và đầu tư trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Luật: Là tài liệu tham khảo giá trị cho các học phần Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Dân sự, Luật Kinh tế; cung cấp phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng khi nghiên cứu các chế định tài sản và vật quyền.
- Chuyên viên pháp lý và người hành nghề luật: Hỗ trợ việc phân tích bản chất quan hệ sở hữu, phân biệt các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền tài sản trong thực tiễn giải quyết tranh chấp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "sở hữu" và "quyền sở hữu" như thế nào?
Theo luận án, sở hữu là quan hệ kinh tế khách quan phát sinh giữa người với người về việc chiếm giữ của cải vật chất trong quá trình sản xuất và phân phối. Trong khi đó, quyền sở hữu là khái niệm pháp lý thuộc kiến trúc thượng tầng, là sự thể chế hóa các quan hệ kinh tế khách quan thành hệ thống quy phạm pháp luật nhằm ghi nhận và bảo vệ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ thể.
2. Sự khác biệt giữa quyền sở hữu theo nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan là gì?
- Quyền sở hữu theo nghĩa khách quan: Là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
- Quyền sở hữu theo nghĩa chủ quan: Là các quyền năng cụ thể (khả năng xử sự thực tế) của một chủ sở hữu nhất định đối với tài sản được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực thi.
3. Tại sao tác giả nhấn mạnh việc nghiên cứu quyền sở hữu ở dạng "động"?
Quyền sở hữu theo quan niệm truyền thống thường chỉ được nhìn nhận ở dạng "tĩnh" (nắm giữ tài sản). Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tài sản chỉ phát huy hiệu quả khi được đưa vào lưu thông, kinh doanh sinh lời. Việc nghiên cứu ở dạng "động" cho phép xác định rõ các hình thức pháp lý thực hiện quyền tổ chức quản lý, liên doanh liên kết, góp vốn, cho thuê và phân phối sản phẩm của chủ sở hữu.
4. Luận án giải thích thế nào về mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất?
Theo Luật Đất đai năm 1993, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Công dân, hộ gia đình được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất không phải là chủ sở hữu đất, nhưng là "chủ thể thực hiện quyền sở hữu" thông qua hình thức pháp lý là quyền sử dụng đất. Đây là một loại quyền tài sản hợp pháp bao gồm các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp.
5. Khái niệm sở hữu tư nhân theo Bộ luật Dân sự năm 1995 được luận án phân tích gồm những bộ phận nào?
Dẫn chiếu Điều 220 Bộ luật Dân sự năm 1995, luận án chỉ rõ sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình, bao gồm ba loại hình tương ứng với các mức độ phân công lao động khác nhau trong xã hội: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân.
Kết luận
Luận án "Quyền sở hữu của công dân ở Việt Nam" của tác giả Hà Thị Mai Hiên là công trình khoa học pháp lý có hệ thống về chế định quyền sở hữu cá nhân trong giai đoạn bản lề của công cuộc Đổi mới. Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng Mác - Lênin và phân tích thực chứng các đạo luật then chốt (Hiến pháp 1992, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Đất đai 1993), tác giả đã làm sáng tỏ nội hàm kinh tế - pháp lý của quyền sở hữu, khẳng định vị trí khách quan của sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh của công dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công trình không chỉ cung cấp những đóng góp mới về mặt lý luận vật quyền và quyền tài sản mà còn đưa ra các luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ đắc lực cho công tác lập pháp, giảng dạy và nghiên cứu luật học tại Việt Nam.