Quyền của Người Khuyết Tật Thành Lập Doanh Nghiệp Xã Hội theo Luật Việt Nam (Luận Văn Thạc Sĩ)

Tìm hiểu quyền của người khuyết tật khi thành lập doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. Quy định pháp luật, điều kiện và thủ tục chi tiết.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2018

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1.1. Lý luận về doanh nghiệp xã hội

1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp xã hội

1.1.2. Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội

1.1.3. Các loại hình doanh nghiệp xã hội

1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp xã hội

1.1.5. Phân biệt giữa doanh nghiệp xã hội, doanh nghiệp truyền thống và tổ chức từ thiện

1.1.6. Phân biệt giữa doanh nghiệp xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.2. Các quy định pháp luật hiện hành về doanh nghiệp xã hội

1.2.1. Quy định về doanh nghiệp xã hội trước khi ban hành Luật doanh nghiệp 2014

1.2.2. Quy định về doanh nghiệp xã hội khi ban hành Luật doanh nghiệp 2014

1.3. Những quy định liên quan đến Luật doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG VIỆC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

2.1. Người khuyết tật

2.2. Thực tiễn về doanh nghiệp xã hội cho người khuyết tật

2.3. Những vướng mắc về quy định của pháp luật hiện hành

2.3.1. Những bất cập của quy định hiện hành

2.4. Kiến nghị/đề xuất

2.4.1. Hoàn thiện về quy định pháp luật

2.4.2. Tăng cường thực thi thể chế, pháp luật

2.4.3. Đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp xã hội

2.4.4. Xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp xã hội

2.4.5. Xây dựng hệ thống cơ quan chuyên trách quản lý doanh nghiệp xã hội

2.4.6. Sự hỗ trợ của Nhà nước

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quyền NKT Thành Lập DNNXH Theo Luật Việt Nam

Việt Nam có khoảng 6% dân số là người khuyết tật (NKT). Khoảng 80% NKT ở thành thị và 70% ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội. Tỷ lệ NKT không có chuyên môn, nghề nghiệp còn rất cao. Luật Doanh nghiệp 2014 lần đầu tiên công nhận sự tồn tại của doanh nghiệp xã hội (DNNXH) tại Việt Nam. DNNXH hoạt động theo cơ chế thị trường, giải quyết các vấn đề xã hội thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận. Sự đồng hành của DNNXH cùng Chính phủ giải quyết các vấn đề xã hội quan trọng. Các tổ chức như Mạng lưới Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam (VSEN) và Mạng lưới học giả Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam (VSES) hỗ trợ NKT khởi nghiệp. Luận văn này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền của người khuyết tật trong việc thành lập DNNXH tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Mục tiêu là cung cấp cái nhìn tổng thể về các quy định pháp luật hiện hành về DNNXH cho NKT, phát hiện những hạn chế và đề xuất giải pháp. Câu hỏi nghiên cứu chính là: Pháp luật Việt Nam hiện hành về DNNXH có đáp ứng được nhu cầu giải quyết việc làm và bảo vệ quyền lợi của NKT hay không? Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích, khái quát hóa, thống kê và diễn giải.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của Doanh Nghiệp Xã Hội DNNXH

Các cơ quan chính phủ ở châu Á quan niệm DNNXH là doanh nghiệp tạo cơ hội đào tạo và việc làm cho các đối tượng yếu thế. Chính phủ Anh định nghĩa DNNXH là mô hình kinh doanh thực hiện các mục tiêu xã hội và tái đầu tư lợi nhuận cho mục tiêu đó hoặc cộng đồng. OECD cho rằng DNNXH hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý, theo đuổi cả mục tiêu xã hội và kinh tế, cung cấp dịch vụ và việc làm cho các nhóm yếu thế. CSIP định nghĩa DNNXH là hoạt động của các doanh nhân xã hội nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội, môi trường và kinh tế. Đặc điểm cơ bản của DNNXH bao gồm định hướng kinh doanh gắn liền với các vấn đề xã hội, mục tiêu xã hội rõ ràng và sở hữu xã hội, tức là tạo ra doanh thu đáng kể từ các hoạt động kinh doanh nhưng không chỉ để tối đa hóa lợi nhuận mà để bảo vệ và phát triển các giá trị xã hội. Quản lý DNNXH phức tạp vì phải đạt được cả mục tiêu xã hội và tài chính, trong đó mục tiêu xã hội được ưu tiên.

1.2. Phân loại DNNXH Phi lợi nhuận không vì lợi nhuận có lợi nhuận

DNNXH phi lợi nhuận thường hoạt động dưới hình thức các trung tâm, hiệp hội, quỹ, câu lạc bộ. DNNXH không vì lợi nhuận được thành lập bởi các doanh nhân xã hội, kết hợp bền vững xã hội với kinh tế, lợi nhuận chủ yếu tái đầu tư hoặc mở rộng tác động xã hội. Các doanh nghiệp có định hướng xã hội, có lợi nhuận thường phổ biến trong lĩnh vực tài chính vi mô. Mục tiêu chính không phải là tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông mà là vì xã hội và môi trường, doanh thu tái đầu tư hoặc trợ cấp cho các nhóm người có thu nhập thấp. Các doanh nghiệp này thường tìm kiếm các nhà đầu tư quan tâm đến cả lợi ích vật chất và lợi ích xã hội.

II. Quyền NKT Khởi Nghiệp DNNXH Thực Trạng Pháp Lý Việt Nam

Trước khi có Luật Doanh nghiệp 2014, nhiều loại hình doanh nghiệp, tổ chức có mục tiêu xã hội tương tự DNNXH đã được thành lập và hoạt động theo luật pháp Việt Nam. Nghị định 71/1998/NĐ-CP khuyến khích sự tham gia của xã hội dân sự và công dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách. Nghị định 35-HĐBT đưa ra một số biện pháp thúc đẩy thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ cá thể. Nghị định 177/1999/NĐ-CP và Nghị định 148/2007/NĐ-CP xây dựng cơ sở cho việc thành lập quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các doanh nghiệp vẫn giữ được tổ chức và hoạt động như các doanh nghiệp truyền thống. Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định DNNXH là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật, mục tiêu hoạt động là giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường vì lợi ích của xã hội, cộng đồng. DNNXH sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận gộp hàng năm để tái đầu tư cho các mục tiêu xã hội và môi trường đã được đăng ký. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của DNNXH.

2.1. Luật Doanh Nghiệp 2014 Khung pháp lý cho DNNXH

Theo Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014, DNNXH phải đáp ứng các tiêu chí: được đăng ký thành lập theo quy định của Luật; mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Ngoài ra, DNNXH còn có các quyền và nghĩa vụ khác như duy trì mục tiêu và điều kiện trong suốt quá trình hoạt động; chủ sở hữu DNNXH được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép; được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau; không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác; và phải định kỳ báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động. Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển DNNXH.

2.2. Nghị Định 96 2015 Hướng Dẫn Chi Tiết Về DNNXH

Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp. DNNXH thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục và hồ sơ tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp. Tên DNNXH có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội”. DNNXH phải thông báo cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh. DNNXH được huy động và nhận tài trợ từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác. DNNXH được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật.

III. Vướng Mắc Pháp Lý Quyền NKT Thành Lập DNNXH

Luật Doanh nghiệp 2014 không xem DNNXH là một loại hình doanh nghiệp có tính đặc thù riêng mà xem nó giống như một doanh nghiệp thông thường. Vì vậy, DNNXH vẫn được tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp sau đây: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân. Mục đích thành lập doanh nghiệp theo quan niệm truyền thống trong khoa học pháp lý ở nước ta là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư trong doanh nghiệp, chứ không phải là việc giải quyết các vấn đề xã hội vì lợi ích của cộng đồng. Có quan điểm cho rằng định nghĩa kinh doanh ở nước ta quá nhấn mạnh chủ nghĩa duy lợi. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, các DNNXH lại được xếp vào nhóm 'doanh nghiệp', nghĩa là DNNXH phải là một pháp nhân thương mại. Nhưng dường như theo tinh thần của Bộ luật dân sự năm 2015 thì các DNNXH là một lĩnh vực vượt ra ngoài khái niệm doanh nghiệp, tạo ra mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp 2014.

3.1. Mâu Thuẫn Giữa Luật Doanh Nghiệp và Bộ Luật Dân Sự

Theo Điều 75 Bộ luật dân sự năm 2015, doanh nghiệp là pháp nhân thương mại với mục đích sinh lợi. Trong khi đó, theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015, DNNXH là pháp nhân phi thương mại, vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận nhưng đó không là mục tiêu chính và điều quan trọng là nếu có lợi nhuận thì không được chia cho các thành viên. Điều này tạo ra sự mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp 2014 khi xếp DNNXH vào nhóm doanh nghiệp thương mại, trong khi bản chất của DNNXH là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, vì lợi ích của cộng đồng, không vì lợi nhuận.

3.2. Khó Khăn Trong Tiếp Cận Vốn và Ưu Đãi Thuế

Các DNNXH ở Việt Nam còn tương đối non trẻ, được hình thành từ ý tưởng cá nhân, với vốn đầu tư ban đầu chủ yếu từ sự đóng góp của các thành viên sáng lập. Các DNNXH được mô tả không vì lợi nhuận, kinh doanh tại các thị trường có rủi ro cao, lợi nhuận tài chính lại thấp, do đó không hấp dẫn được các nhà đầu tư thương mại. Cùng với đó là chi phí đầu tư cho nhân sự, quản lý của DNNXH lại lớn hơn so với mức trung bình. Do đó, DNNXH đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về tài chính. Doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận viện trợ, nhận sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân khác để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Quyền NKT Và DNNXH

Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển DNNXH để giải quyết các vấn đề về nhu cầu an sinh xã hội, phục vụ nhu cầu của những người nghèo, yếu thế nhất và đông nhất trong xã hội. Các DNNXH chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước, đóng góp tích cực vào việc tạo việc làm, thu nhập và cơ hội để nhóm người này tự tin, hòa nhập, từ đó giúp họ có cuộc sống ổn định hơn. Doanh nghiệp xã hội được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo Thông tư 96/2015/TT-BTC. Cần có quy định cụ thể hơn về chính sách hỗ trợ và thúc đẩy phát triển DNNXH trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

4.1. Xây Dựng Khung Pháp Lý Rõ Ràng Nhất Quán Về DNNXH

Cần có sự sửa đổi, bổ sung để tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp 2014 và Bộ luật Dân sự 2015 về bản chất và mục tiêu của DNNXH. Cần có quy định rõ ràng hơn về các tiêu chí xác định DNNXH để tránh sự lạm dụng và đảm bảo rằng các doanh nghiệp thực sự hoạt động vì mục tiêu xã hội, môi trường.

4.2. Tăng Cường Hỗ Trợ Tài Chính và Ưu Đãi Cho DNNXH

Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cụ thể hơn cho DNNXH, đặc biệt là các DNNXH do NKT làm chủ hoặc tạo việc làm cho NKT. Cần có các chương trình vay vốn ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn cho DNNXH. Cần có các chính sách ưu đãi về thuế, phí, tiền thuê đất cho DNNXH, đặc biệt là các DNNXH hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên như tạo việc làm cho NKT, bảo vệ môi trường.

4.3. Nâng Cao Nhận Thức Về DNNXH Và Quyền Của NKT

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về DNNXHquyền của NKT để nâng cao nhận thức của cộng đồng. Cần có các chương trình đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội về DNNXHquyền của NKT. Cần khuyến khích các cơ quan truyền thông đưa tin, phản ánh về các mô hình DNNXH thành công, đặc biệt là các mô hình do NKT làm chủ hoặc tạo việc làm cho NKT.

V. Mô Hình DNNXH Thành Công Của NKT Bài Học Kinh Nghiệm

Thực tế chứng minh rằng nhiều DNNXH được tạo điều kiện đã phát triển tốt và mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng. Ví dụ: Công ty TNHH Thủ công Mai (Mai Vietnamese Handicrafts- MVH). MVH là một doanh nghiệp nhỏ thành công do hai cán bộ xã hội thành lập năm 1990 tại TP. MVH đã tiếp cận và làm việc với những người thợ thủ công (70% là phụ nữ nghèo) ở các vùng nông thôn xa xôi để đào tạo và tạo việc làm cho họ. MVH đã trở thành một DNNXH có lợi nhuận với doanh thu khoảng 1,7 triệu USD (2008). Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu đạt 10% và toàn bộ lợi nhuận được tái đầu tư cho các hoạt động phát triển cộng đồng.

5.1. Nghiên Cứu Các Mô Hình DNNXH Thành Công

Cần nghiên cứu, đánh giá các mô hình DNNXH thành công trong và ngoài nước để rút ra các bài học kinh nghiệm. Cần tìm hiểu các yếu tố thành công của các mô hình này, bao gồm: mô hình quản trị, cách thức huy động vốn, cách thức tạo ra sản phẩm/dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường, cách thức giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường.

5.2. Nhân Rộng Các Mô Hình DNNXH Hiệu Quả

Cần khuyến khích nhân rộng các mô hình DNNXH hiệu quả, đặc biệt là các mô hình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. Cần tạo điều kiện cho các DNNXH được chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác và học hỏi lẫn nhau.

VI. Tương Lai Quyền NKT Trong DNNXH Khuyến Nghị Phát Triển

Các DNNXH ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển ban đầu nhưng tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn. Cần có cơ chế, chính sách thuận lợi, mô hình DNNXH cho thấy tiềm năng và triển vọng phát triển trong tương lai là một vùng đất màu mỡ cho thanh niên có tham vọng để có được cuộc sống phong phú và hữu ích. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng để tạo ra một hệ sinh thái DNNXH phát triển bền vững, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của NKT.

6.1. Xây Dựng Mạng Lưới Hỗ Trợ DNNXH Toàn Diện

Cần xây dựng một mạng lưới hỗ trợ DNNXH toàn diện, bao gồm các tổ chức tư vấn, đào tạo, tài chính, xúc tiến thương mại. Cần kết nối các DNNXH với các doanh nghiệp lớn, các nhà đầu tư và các tổ chức xã hội khác để tạo ra các cơ hội hợp tác và phát triển.

6.2. Đẩy Mạnh Hợp Tác Quốc Tế Về DNNXH

Cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế về DNNXH để học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận các nguồn lực và công nghệ mới. Cần tham gia các diễn đàn, hội nghị quốc tế về DNNXH để giới thiệu về các mô hình DNNXH của Việt Nam và thu hút đầu tư quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về doanh nghiệp xã hội. Chương 2: Thực trạng về tổ chức hoạt động của doanh nghiệp xã hội cho người khuyết tật tại Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1. Lý luận về doanh nghiệp xã hội 1.

Khái niệm về doanh nghiệp xã hội Các cơ quan chính phủ ở châu Á có quan điểm rằng: “Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được thành lập nhằm tạo cơ hội đào tạo và việc làm cho các đối tượng yếu thế”.4 Trong khi đó, Chính phủ Anh có khái niệm về doanh nghiệp xã hội như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)5: “Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, nhằm theo đuổi cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. Doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”.6 Theo Tổ chức Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP): “Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể; doanh nghiệp lấy lợi ích xã hội làm mục 4 “ Truy cập tại: https://www.vn/sites/default/files/social-enterprise-in-vietnam-concept- context-policies” 5 “OECD: có mục đích là để tìm ra các chính sách phát triển kinh tế cùng phúc lợi của người dân.

Truy cập tại: https://vi.org/wiki/Tổ_chức_hợp_tác_và_phát_triển_kinh_tế” 6 “ Truy cập tại: https://www.vn/sites/default/files/social-enterprise-in-vietnam-concept- context-policies” 6 tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội, môi trường và kinh tế”.7 Doanh nghiệp xã hội là một tổ chức áp dụng các chiến lược thương mại để tối đa hóa sự cải thiện về phúc lợi của con người và môi trường - có thể bao gồm tối đa hóa tác động xã hội cùng với lợi nhuận cho các cổ đông bên ngoài. Các doanh nghiệp xã hội có thể được cấu trúc như một tổ chức vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận và có thể có hình thức (tùy thuộc vào quốc gia mà tổ chức đó tồn tại và các hình thức pháp lý có sẵn) của một tổ chức hợp tác, một doanh nghiệp xã hội, một công ty phúc lợi, một công ty sở hữu cộng đồng hoặc một tổ chức từ thiện. Điều khác biệt giữa các doanh nghiệp xã hội là sứ mệnh xã hội của họ là cốt lõi cho thành công của họ như là lợi nhuận tiềm năng. Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội - Thứ nhất là định hướng của doanh nghiệp: Việc kinh doanh luôn đề cập đến các vấn đề xã hội như: bảo vệ các giá trị văn hoá, tôn trọng các mối quan hệ xã hội, bảo vệ môi trường, cứu trợ, hiến tặng, quyên góp, trợ giúp cho người túng thiếu và giải quyết xung đột gia đình, cộng đồng., trực tiếp giải quyết các vấn đề này và góp phần nâng cao giá trị cho toàn xã hội.

Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp xã hội đóng góp vào việc bảo vệ và quảng bá những điều tốt đẹp và những giá trị xã hội, nhưng không phải là các “tổ chức từ thiện” hay "các tổ chức cứu trợ". - Thứ hai là mục tiêu xã hội: Doanh nghiệp xã hội mang đến những giá trị tốt đẹp cho toàn xã hội chính là lợi thế của họ so với các doanh nghiệp khác. Đó là những giá trị tốt đẹp thể hiện trong tình cảm giữa người với người, các quy tắc ứng xử, các chuẩn mực và 7 “ Truy cập tại: https://www.vn/sites/default/files/social-enterprise-in-vietnam-concept- context-policies.pdf” 7 đạo đức trong xã hội. Vì vậy, các doanh nghiệp xã hội luôn được người dân tôn trọng và ủng hộ cho các hoạt động của họ như cứu trợ, từ thiện, đóng góp để hỗ trợ người dân trong vùng thiên tai.

- Thứ ba là sở hữu xã hội: Cũng giống như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp xã hội tạo ra doanh thu đáng kể từ các hoạt động kinh doanh. Điều này gần giống với các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh hoặc cả các tổ chức phi lợi nhuận hoặc doanh nghiệp với mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, các doanh nhân xã hội có quyền kinh doanh để bù đắp chi phí và phát triển các giá trị xã hội, không chỉ để tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, họ cũng cần phải có một chiến lược hoạt động chung và chiến lược phát triển tổng thể khác về cơ bản so với một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.

Như vậy, các doanh nghiệp xã hội có phạm vi hoạt động khá rộng rãi và được kết nối với nhau với sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau. Sự tồn tại của nó liên quan đến các vấn đề xã hội và mục tiêu cơ bản của nó không phải là lợi nhuận mà là để bảo vệ và phát triển các giá trị xã hội, làm tăng thêm hệ số giá trị xã hội, chẳng hạn như giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp mà các doanh nghiệp hoặc các tổ chức lợi nhuận không thực hiện vì họ không nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Các doanh nghiệp xã hội có chức năng độc lập nhưng phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của dư luận, chính phủ, cộng đồng và các bên liên quan khác. Từ những đặc điểm trên, quản lý doanh nghiệp xã hội có thể rất phức tạp vì phải đạt được các mục tiêu xã hội và tài chính trong khi các mục tiêu xã hội được ưu tiên cao nhất.

Các loại hình doanh nghiệp xã hội8 1. Doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận(Non-profit Social Enterprises) Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận thường hoạt động dưới hình thức các trung tâm, hiệp hội, quỹ, câu lạc bộ, nhóm tự nguyện/nhóm người khuyết tật, nhóm người sống với HIV/AIDS. Hầu hết các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận được phát triển từ các Tổ chức phi chính phủ (NGO)9. Tuy hình thức khá giống với các tổ chức này nhưng các doanh nghiệp phi lợi nhuận lại đưa ra các giải pháp cạnh tranh cao để giải quyết nhu cầu xã hội cụ thể, thu hút vốn đầu tư từ các cá nhân và tổ chức vì tác động xã hội.

Các doanh nghiệp xã hội có thể được chia thành ba nhóm dựa trên phương thức hoạt động, mục tiêu xã hội và kinh phí: - Các doanh nghiệp xã hội cung cấp các dịch vụ và sản phẩm có hiệu quả cao trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và phần lớn do một bên thứ ba tài trợ, thường là một nhà đầu tư cộng đồng hoặc xã hội. Nói cách khác, loại hình doanh nghiệp xã hội này là một nhân viên độc lập, tự làm chủ, xúc tác, kết nối và có trách nhiệm với xã hội. - Hoạt động kinh doanh nhằm mục đích đưa hàng hóa/dịch vụ công đến những người khó khăn nhất về kinh tế và dễ bị tổn thương không có điều kiện tiếp cận hoặc không có khả năng chi trả các dịch vụ ở mức giá bình thường. Mục tiêu của họ là đáp ứng nhu cầu và 8 “Nguyễn Đình Cung và cộng sự, 2012.

Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái niệm, bối cảnh và chính sách. Hà Nội” 9 “NGO: là một tổ chức không thuộc về bất cứ chính phủ nào. Mặc dù về mặt kỹ thuật, định nghĩa cũng có thể bao hàm các tổ chức phi lợi nhuận, thuật ngữ này thường giới hạn để chỉ các tổ chức xã hội và văn hoá mà mục tiêu chính không phải là thương mại. Một điểm nổi bật nhất của các tổ chức phi chính phủ là việc các tổ chức này tạo ra những hệ thống gắn kết và mạng lưới kết nối những cá nhân xuyên quốc gia.

Truy cập tại: https://vi.org/wiki/Tổ_chức_phi_chính_phủ” 9 quyền lợi của người đang bị bỏ qua bởi các mô hình và cơ chế kinh doanh hiện tại10. Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận (Not-for-profit Social Enterprises) Hầu hết các doanh nghiệp này được thành lập bởi các doanh nhân xã hội, ngay từ đầu, các doanh nghiệp này đã xác định rõ ràng sự kết hợp bền vững của xã hội với kinh tế. Lợi nhuận chủ yếu dành cho việc sử dụng tái đầu tư hoặc để mở rộng tác động xã hội của doanh nghiệp. Việc đưa ra các giải pháp sáng tạo và thúc đẩy thị trường để giải quyết các vấn đề xã hội và những thách thức về môi trường là một sự khởi đầu khác biệt từ các tổ chức từ thiện hoặc tổ chức truyền thông xã hội thường xuyên.

Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận thường đăng ký dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Lý do để các doanh nghiệp này đăng ký hoạt động như một công ty vì họ không muốn xã hội nghĩ họ “ăn xin” trong quỹ từ thiện của cộng đồng. Họ tạo ra giá trị vật chất từ những hàng hoá và dịch vụ phong phú mà họ cung cấp cho cộng đồng. Ngoài ra, làm việc như các công ty giúp họ tiếp cận nhiều cơ hội kinh doanh và vốn khác nhau hơn là hoạt động từ thiện.

Tuy nhiên, do theo đuổi sứ mệnh đặc biệt nên các doanh nghiệp xã hội này phải đối mặt với một số thách thức cụ thể so với các doanh nghiệp thông thường khác: - Các mục tiêu xã hội không cho phép họ "tối đa hoá" lợi nhuận dưới bất kỳ hình thức nào. Vì vậy, "tối ưu hóa" lợi nhuận là phương châm hoạt động của các doanh nghiệp này. Ngoài những chi phí kinh doanh như doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội phải chi tiêu lớn cho "chi phí xã hội". Do tính chất "hỗn hợp", các doanh “Elkington J.

Sức mạnh của những người phi lý. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội 10 10 nghiệp xã hội thường có nguồn vốn đầu tư đa dạng như các khoản vay ưu đãi dưới hình thức các khoản vay lãi suất thấp, cổ tức xã hội, hoặc các khoản tài trợ không hoàn lại. Tuy nhiên, không có quy định rõ ràng về việc nhận các khoản trợ cấp và các khoản vay ưu đãi từ các nhà đầu tư xã hội đang làm cho các doanh nghiệp bối rối do giải thích thuế và kế toán doanh nghiệp. - Các doanh nhân xã hội áp dụng một thước đo hiệu suất khác với doanh nghiệp điển hình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ