Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái niệm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản. Lịch sử phát triển kinh tế của loài người đã chứng kiến những bước nhảy vọt kinh ngạc từ buổi bình minh với những con đường tơ lụa ở Trung Đông xa xôi cho đến sự sụp đổ của gã khổng lồ Nokia ở thế kỷ 21. Điều đó cho ta thấy rằng xã hội luôn không ngừng phát triển và thay đổi, nền kinh tế cũng vậy bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng.
Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các DN. Tình trạng phá sản là hậu quả đương nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường giúp loại bỏ những DN yếu kém không kịp thích ứng đồng thời cũng là áp lực để các DN phải luôn đổi mới để có thể tồn tại trên thị trường. Nhìn ở góc độ tích cực, nền kinh tế của mỗi quốc gia giống như một đoàn tàu với rất nhiều toa nối nhau, những DN phá sản là những toa phải bỏ lại phía sau để đoàn tàu về đích nhanh hơn. Vì là một thủ tục tư pháp nên việc phá sản xảy ra khi các bên không thể thỏa thuận được với nhau về mặt lợi ích và hậu quả mà nó để lại có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội trong đó đối tượng bị động và có số lượng lớn nhất chính là NLĐ.
Về pháp luật phá sản trên thế giới, Luật Phá sản đầu tiên của Anh do vua Henry VIII ký vào năm 1542. Đây là đạo luật chống lại cá nhân gây ra phá sản. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nhiều thế kỷ, Luật Phá sản của Anh đã đưa nhiều con nợ vào tù, thậm chí treo cổ. Còn tại Châu Âu lại có một thời kỳ dài chịu ảnh hưởng của Luật Phá sản.
Năm 1905, Nam Tư ban hành Luật cưỡng chế hòa giải phá sản. Theo luật này, giữa các chủ nợ và con nợ không đạt được sự hoà giải thì được giải quyết bằng cách cưỡng chế. Đến năm 1980 lại ban hành Luật "chỉnh đốn và đóng cửa tổ chức lao động liên kết" và đây là Luật Phá sản hiện hành. Trong Luật tố tụng dân sự của Liên Xô ban hành năm 1923 có điều nói về chế độ phá sản.
Năm 1925, các quốc gia Châu Âu cũng đã ban hành nguyên tắc chung về luật không có khả năng thanh toán nhưng cho đến nay vẫn chưa có gì tiến bộ. Các câu lạc bộ kinh tế của EC hoặc giữa Mỹ và Canada cũng chưa có khả năng đi đến dự thảo một luật phá sản chung. Do đó ngày nay, mỗi quốc gia đều ban hành một luật phá sản riêng, phù hợp hơn với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nước mình, như Luật Phá sản của Thụy Điển hiện nay là luật được ban hành năm 1972, Mỹ từ năm 1978, của Ba Lan từ năm 1983, của Singapore từ năm 1985, của Hungary và Trung Quốc từ năm 1986. Đặc biệt Anh năm 1986 ban hành 2 đạo luật liên quan đến phá sản: Luật không có khả năng thanh toán và Luật treo giò giám đốc Cty.
[8] Khái niệm phá sản xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển xã hội loài người từ thời La Mã cổ đại, Trung Cổ cho đến xã hội hiện đại ngày nay. Thời La Mã đó có nhiều con nợ thường bỏ trốn, để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã phải đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ. Cách làm này chỉ thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người. Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì rất dễ xảy ra tranh chấp.
Bởi thế người ta thấy rằng, để các chủ nợ đều được đảm bảo trả nợ một cách công bằng hợp lý, “Tốt nhất là tòa án địa phương (của con nợ) đứng ra quản lý số tài sản, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tuỳ theo vốn và lãi của mỗi người” [8]. Ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia pháp luật phá sản lại có những điểm khác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt, nhưng nhìn chung cách lý giải về bản chất của phá sản đều gặp nhau ở hai điểm chung đó là: (i)Một người hay một DN nào đó gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả, và có thể dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của DN đó (ii)Phá sản đương nhiên phải do pháp luật điều chỉnh và khi đặt trong cái nhìn về mặt pháp lý đây là một thủ tục tư pháp và một DN được kết luận là phá sản khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố một DN bị phá sản. Tuy nhiên tùy vào trình độ phát triển cũng như điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia lại có những thay đổi về đối tượng, yếu tố định lượng hay pháp luật điều chỉnh của phá sản. Theo quy định tại Hướng dẫn quyền của NLĐ khi DN phá sản do Phòng Lao động Hồng Kông ban hành tháng 09/2014, khuyến nghị NLĐ cần thông báo cho cơ quan chức năng khi DN có những biểu hiện sau: “Chủ sử dụng lao động không trả được nợ của DN bao gồm cả tiền khi đến hạn; Nguyên liệu thực vật, máy móc hoặc vật liệu khác được lấy ra khỏi nơi làm việc mà không có lý do chính đáng; Nơi làm việc đóng cửa mà không thông báo trước; Chủ DN đột nhiên biến mất” [18] qua quy định này có thể thấy rằng các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa nặng về tính pháp lý mà chỉ là những biểu hiện bên ngoài để NLĐ kịp thời bảo vệ lợi ích của mình.
Pháp luật phá sản một số quốc gia như Hoa Kỳ hay Singapore cho rằng phá sản không chỉ bó hẹp trong phạm vi DN mà còn có cả cá nhân (không kinh doanh). Tại Singapore, một cá nhân có thể nộp đơn xin phá sản nếu nợ số tiền không có khả năng thanh toán tổng cộng ít nhất 10.000 đô la Singapore các điều kiện này sẽ được tòa án đánh giá và người này có thể tuyên bố phá sản trong vòng 4-6 tuần sau khi đệ đơn [19]. Hoa Kỳ cho phép cá nhân có thể đệ đơn khai phá sản một trong hai loại phá sản – Chương 7 “vỡ nợ” phá sản hay Chương 13 “trả nợ” phá sản, nếu cá nhân nộp đơn phá sản theo chương 7 kèm theo những điều kiện nhất định họ sẽ thoát khỏi khỏi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoản nợ nhưng cũng bị tịch thu toàn bộ tài sản (trừ tài sản được miễn) còn nếu nộp đơn theo chương 13 cá nhân có thể giữ được lại tài sản của mình các khoản nợ sẽ được chính phủ gia hạn trả trong nhiều năm [20]. Theo Luật Phá sản của 1966 của Úc, tại Điều 5 Giải thích các khái niệm có quy định Phá sản là tình trạng DN bị tịch thu tài sản theo lệnh và trở thành phá sản theo kiến nghị của chủ nợ, cũng tại điều 5 này quy định tất cả thủ tục và thẩm quyền về phá sản đều phải thực hiện theo quy định tại Luật Phá sản 1966 này.
Trong khi đó pháp luật phá sản Nhật Bản chế định phá sản quy định tại nhiều bộ luật với thời gian ban hành khác nhau: Luật Phá sản (năm 1922); Bộ luật thương mại (năm 1938); Luật về thoả hiệp (năm 1922; năm 2000); Bộ luật về phục hồi dân sự (năm 1999; năm 2000); Luật về tổ chức lại công ty (năm 1952). [4] Pháp luật phá sản của Việt Nam trải qua trình phát triển gần 30 năm, bắt đầu manh nha từ luật Công ty năm 1990 cho đến Luật phá sản 2014 pháp luật về phá sản của Việt Nam đã không ngừng phát triển và hoàn thiện để thích ứng với môi trường kinh doanh biến đổi không ngừng. Nhưng dù cho có thay đổi thế nào thì pháp luật về phá sản vẫn luôn đảm bảo những giá trị cốt lõi đó là: Bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ; Bảo vệ lợi ích của người mắc nợ, tạo cơ hội để người mắc nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự; Góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của NLĐ; Góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn. Như vậy, pháp luật phá sản là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện mở TTPS; địa vị pháp lý, thẩm quyền, mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia TTPS; trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thanh lý tài sản DN; thi hành quyết định tuyên bố phá sản; các vấn đề khác phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản.
Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam hiện nay chế định phá sản được quy định trong Luật Phá sản 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngoài ra các vấn đề liên quan đến quyền lợi của NLĐ được quy định tại: Bộ luật lao động 2012, Luật Việc làm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Công Đoàn 2012 cùng các văn bản hướng dẫn. Có thể thấy, phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và Tòa án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các DN với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo. Khi DN phá sản, ngoài lợi ích của chủ nợ bị ảnh huởng thì không thể không nhắc đến quyền lợi của NLĐ – đối tượng dễ bị tổn thương nhất.