Luận Văn Thạc Sĩ: Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản của Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích quyền của người lao động trong pháp luật phá sản tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2016

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1. Khái niệm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

1.2. Sự cần thiết phải bảo đảm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

1.3. Nội dung các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

1.3.1. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

1.3.2. Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ

1.3.3. Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền lợi khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

1.3.4. Quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CỦA VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

2.1. Lược sử phát triển các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam và thực tiễn thực hiện

2.2. Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản và thực tiễn thực hiện giai đoạn năm 1993 đến trước năm 2004

2.3. Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản và thực tiễn thực hiện giai đoạn năm 2004 đến trước năm 2014

2.4. Đánh giá, nhận xét sự phát triển về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản giai đoạn từ năm 1993 đến trước năm 2014

2.5. Nội dung các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản hiện hành và thực tiễn thực hiện

2.5.1. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

2.5.2. Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ

2.5.3. Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền lợi khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

2.5.4. Quyền đề nghị xem xét lại các quyết định của Tòa án nhân dân

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CỦA VIỆT NAM

3.1. Yêu cầu hoàn thiện các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

3.2. Cần khắc phục những bất hợp lý của các quy định hiện hành

3.3. Cần đảm bảo sự phù hợp với phát triển của nền kinh tế trong điều kiện đổi mới, đặc biệt là điều kiện hội nhập quốc tế

3.4. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam

3.5. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản Việt Nam

Quyền của người lao động trong pháp luật phá sản Việt Nam là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng triệu người lao động. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, việc bảo vệ quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp phá sản trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong các tình huống phá sản, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết.

1.1. Khái niệm và Ý nghĩa của Quyền Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản

Quyền của người lao động trong pháp luật phá sản được hiểu là những quyền lợi mà người lao động được hưởng khi doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ. Điều này bao gồm quyền được ưu tiên thanh toán, quyền tham gia hội nghị chủ nợ và quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án. Những quyền này không chỉ bảo vệ lợi ích cá nhân mà còn góp phần ổn định xã hội.

1.2. Tình hình Thực hiện Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản

Thực tế cho thấy, mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về quyền của người lao động, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều người lao động không nắm rõ quyền lợi của mình, dẫn đến việc không thể bảo vệ được quyền lợi khi doanh nghiệp phá sản. Hơn nữa, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật cũng gây khó khăn trong việc thực thi.

II. Vấn đề và Thách thức trong Bảo Vệ Quyền của Người Lao Động

Mặc dù có những quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Các doanh nghiệp thường tìm cách né tránh trách nhiệm, trong khi người lao động lại thiếu thông tin và kiến thức về quyền lợi của mình.

2.1. Những Vấn Đề Pháp Lý trong Quyền của Người Lao Động

Một trong những vấn đề lớn nhất là sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật. Nhiều quy định trong Luật Phá sản, Bộ luật Lao động và các luật liên quan không đồng nhất, gây khó khăn cho người lao động trong việc thực hiện quyền lợi của mình.

2.2. Thách Thức trong Thực Tiễn Thực Hiện Quyền của Người Lao Động

Người lao động thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và hỗ trợ pháp lý. Nhiều người không biết đến quyền lợi của mình, dẫn đến việc không thể yêu cầu bảo vệ quyền lợi khi doanh nghiệp phá sản. Hơn nữa, sự thiếu hụt về tổ chức công đoàn cũng làm giảm khả năng bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

III. Phương Pháp Bảo Vệ Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản

Để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh phá sản, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải thiện quy định pháp luật và nâng cao nhận thức cho người lao động là rất quan trọng.

3.1. Cải Thiện Quy Định Pháp Luật về Quyền của Người Lao Động

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi trong việc thực hiện quyền của người lao động. Các quy định cần rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện hơn để người lao động có thể nắm bắt và thực thi quyền lợi của mình.

3.2. Nâng Cao Nhận Thức và Kiến Thức cho Người Lao Động

Tổ chức các chương trình đào tạo, hội thảo để nâng cao nhận thức cho người lao động về quyền lợi của mình trong pháp luật phá sản. Việc này không chỉ giúp người lao động hiểu rõ quyền lợi mà còn tạo ra một môi trường làm việc công bằng hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu về Quyền của Người Lao Động

Nghiên cứu về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp cải thiện tình hình thực hiện quyền lợi của người lao động.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu và Đánh Giá Thực Tiễn

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc thực hiện quyền của người lao động trong pháp luật phá sản còn nhiều hạn chế. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu vào Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cần được áp dụng vào thực tiễn để cải thiện tình hình bảo vệ quyền lợi của người lao động. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người lao động được thực thi một cách hiệu quả.

V. Kết Luận và Tương Lai của Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản

Kết luận về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản cho thấy rằng, mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tương lai của quyền lợi người lao động trong bối cảnh phá sản cần được chú trọng hơn nữa.

5.1. Tương Lai của Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản

Tương lai của quyền lợi người lao động trong pháp luật phá sản sẽ phụ thuộc vào sự cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cần có những chính sách cụ thể để bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp cho Tương Lai

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của người lao động trong pháp luật phá sản, bao gồm việc cải cách pháp luật, nâng cao nhận thức và tạo ra môi trường làm việc công bằng hơn.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái niệm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản. Lịch sử phát triển kinh tế của loài người đã chứng kiến những bước nhảy vọt kinh ngạc từ buổi bình minh với những con đường tơ lụa ở Trung Đông xa xôi cho đến sự sụp đổ của gã khổng lồ Nokia ở thế kỷ 21. Điều đó cho ta thấy rằng xã hội luôn không ngừng phát triển và thay đổi, nền kinh tế cũng vậy bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng.

Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các DN. Tình trạng phá sản là hậu quả đương nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường giúp loại bỏ những DN yếu kém không kịp thích ứng đồng thời cũng là áp lực để các DN phải luôn đổi mới để có thể tồn tại trên thị trường. Nhìn ở góc độ tích cực, nền kinh tế của mỗi quốc gia giống như một đoàn tàu với rất nhiều toa nối nhau, những DN phá sản là những toa phải bỏ lại phía sau để đoàn tàu về đích nhanh hơn. Vì là một thủ tục tư pháp nên việc phá sản xảy ra khi các bên không thể thỏa thuận được với nhau về mặt lợi ích và hậu quả mà nó để lại có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội trong đó đối tượng bị động và có số lượng lớn nhất chính là NLĐ.

Về pháp luật phá sản trên thế giới, Luật Phá sản đầu tiên của Anh do vua Henry VIII ký vào năm 1542. Đây là đạo luật chống lại cá nhân gây ra phá sản. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nhiều thế kỷ, Luật Phá sản của Anh đã đưa nhiều con nợ vào tù, thậm chí treo cổ. Còn tại Châu Âu lại có một thời kỳ dài chịu ảnh hưởng của Luật Phá sản.

Năm 1905, Nam Tư ban hành Luật cưỡng chế hòa giải phá sản. Theo luật này, giữa các chủ nợ và con nợ không đạt được sự hoà giải thì được giải quyết bằng cách cưỡng chế. Đến năm 1980 lại ban hành Luật "chỉnh đốn và đóng cửa tổ chức lao động liên kết" và đây là Luật Phá sản hiện hành. Trong Luật tố tụng dân sự của Liên Xô ban hành năm 1923 có điều nói về chế độ phá sản.

Năm 1925, các quốc gia Châu Âu cũng đã ban hành nguyên tắc chung về luật không có khả năng thanh toán nhưng cho đến nay vẫn chưa có gì tiến bộ. Các câu lạc bộ kinh tế của EC hoặc giữa Mỹ và Canada cũng chưa có khả năng đi đến dự thảo một luật phá sản chung. Do đó ngày nay, mỗi quốc gia đều ban hành một luật phá sản riêng, phù hợp hơn với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nước mình, như Luật Phá sản của Thụy Điển hiện nay là luật được ban hành năm 1972, Mỹ từ năm 1978, của Ba Lan từ năm 1983, của Singapore từ năm 1985, của Hungary và Trung Quốc từ năm 1986. Đặc biệt Anh năm 1986 ban hành 2 đạo luật liên quan đến phá sản: Luật không có khả năng thanh toán và Luật treo giò giám đốc Cty.

[8] Khái niệm phá sản xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển xã hội loài người từ thời La Mã cổ đại, Trung Cổ cho đến xã hội hiện đại ngày nay. Thời La Mã đó có nhiều con nợ thường bỏ trốn, để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã phải đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ. Cách làm này chỉ thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người. Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì rất dễ xảy ra tranh chấp.

Bởi thế người ta thấy rằng, để các chủ nợ đều được đảm bảo trả nợ một cách công bằng hợp lý, “Tốt nhất là tòa án địa phương (của con nợ) đứng ra quản lý số tài sản, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tuỳ theo vốn và lãi của mỗi người” [8]. Ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia pháp luật phá sản lại có những điểm khác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt, nhưng nhìn chung cách lý giải về bản chất của phá sản đều gặp nhau ở hai điểm chung đó là: (i)Một người hay một DN nào đó gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả, và có thể dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của DN đó (ii)Phá sản đương nhiên phải do pháp luật điều chỉnh và khi đặt trong cái nhìn về mặt pháp lý đây là một thủ tục tư pháp và một DN được kết luận là phá sản khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố một DN bị phá sản. Tuy nhiên tùy vào trình độ phát triển cũng như điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia lại có những thay đổi về đối tượng, yếu tố định lượng hay pháp luật điều chỉnh của phá sản. Theo quy định tại Hướng dẫn quyền của NLĐ khi DN phá sản do Phòng Lao động Hồng Kông ban hành tháng 09/2014, khuyến nghị NLĐ cần thông báo cho cơ quan chức năng khi DN có những biểu hiện sau: “Chủ sử dụng lao động không trả được nợ của DN bao gồm cả tiền khi đến hạn; Nguyên liệu thực vật, máy móc hoặc vật liệu khác được lấy ra khỏi nơi làm việc mà không có lý do chính đáng; Nơi làm việc đóng cửa mà không thông báo trước; Chủ DN đột nhiên biến mất” [18] qua quy định này có thể thấy rằng các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa nặng về tính pháp lý mà chỉ là những biểu hiện bên ngoài để NLĐ kịp thời bảo vệ lợi ích của mình.

Pháp luật phá sản một số quốc gia như Hoa Kỳ hay Singapore cho rằng phá sản không chỉ bó hẹp trong phạm vi DN mà còn có cả cá nhân (không kinh doanh). Tại Singapore, một cá nhân có thể nộp đơn xin phá sản nếu nợ số tiền không có khả năng thanh toán tổng cộng ít nhất 10.000 đô la Singapore các điều kiện này sẽ được tòa án đánh giá và người này có thể tuyên bố phá sản trong vòng 4-6 tuần sau khi đệ đơn [19]. Hoa Kỳ cho phép cá nhân có thể đệ đơn khai phá sản một trong hai loại phá sản – Chương 7 “vỡ nợ” phá sản hay Chương 13 “trả nợ” phá sản, nếu cá nhân nộp đơn phá sản theo chương 7 kèm theo những điều kiện nhất định họ sẽ thoát khỏi khỏi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoản nợ nhưng cũng bị tịch thu toàn bộ tài sản (trừ tài sản được miễn) còn nếu nộp đơn theo chương 13 cá nhân có thể giữ được lại tài sản của mình các khoản nợ sẽ được chính phủ gia hạn trả trong nhiều năm [20]. Theo Luật Phá sản của 1966 của Úc, tại Điều 5 Giải thích các khái niệm có quy định Phá sản là tình trạng DN bị tịch thu tài sản theo lệnh và trở thành phá sản theo kiến nghị của chủ nợ, cũng tại điều 5 này quy định tất cả thủ tục và thẩm quyền về phá sản đều phải thực hiện theo quy định tại Luật Phá sản 1966 này.

Trong khi đó pháp luật phá sản Nhật Bản chế định phá sản quy định tại nhiều bộ luật với thời gian ban hành khác nhau: Luật Phá sản (năm 1922); Bộ luật thương mại (năm 1938); Luật về thoả hiệp (năm 1922; năm 2000); Bộ luật về phục hồi dân sự (năm 1999; năm 2000); Luật về tổ chức lại công ty (năm 1952). [4] Pháp luật phá sản của Việt Nam trải qua trình phát triển gần 30 năm, bắt đầu manh nha từ luật Công ty năm 1990 cho đến Luật phá sản 2014 pháp luật về phá sản của Việt Nam đã không ngừng phát triển và hoàn thiện để thích ứng với môi trường kinh doanh biến đổi không ngừng. Nhưng dù cho có thay đổi thế nào thì pháp luật về phá sản vẫn luôn đảm bảo những giá trị cốt lõi đó là: Bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ; Bảo vệ lợi ích của người mắc nợ, tạo cơ hội để người mắc nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự; Góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của NLĐ; Góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn. Như vậy, pháp luật phá sản là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện mở TTPS; địa vị pháp lý, thẩm quyền, mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia TTPS; trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thanh lý tài sản DN; thi hành quyết định tuyên bố phá sản; các vấn đề khác phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản.

Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam hiện nay chế định phá sản được quy định trong Luật Phá sản 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngoài ra các vấn đề liên quan đến quyền lợi của NLĐ được quy định tại: Bộ luật lao động 2012, Luật Việc làm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Công Đoàn 2012 cùng các văn bản hướng dẫn. Có thể thấy, phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và Tòa án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các DN với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo. Khi DN phá sản, ngoài lợi ích của chủ nợ bị ảnh huởng thì không thể không nhắc đến quyền lợi của NLĐ – đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quyền của Người Lao Động trong Pháp Luật Phá Sản Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi của người lao động trong bối cảnh doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính và tiến hành phá sản. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đảm bảo họ không bị thiệt thòi trong quá trình này. Đặc biệt, nó đề cập đến các quy định pháp lý hiện hành và những biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người lao động, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và cách thức thực thi chúng.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi doanh nghiệp phá sản thực hiện áp dụng tại tỉnh Bình Dương", nơi cung cấp thông tin chi tiết về các quy định cụ thể tại một địa phương. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ VNU LS hoàn thiện pháp luật về tổ chức công đoàn ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền của người lao động" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động. Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin bổ ích mà còn mở ra cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về quyền lợi của người lao động trong bối cảnh pháp luật phá sản tại Việt Nam.