Luận văn Thạc sĩ: Quyền của người bào chữa theo Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu Quyền của người bào chữa theo luật tố tụng hình sự việt nam luận văn thạc sĩ luật học, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá quyền của người bào chữa theo luật tố tụng hình sự

Nền tảng của một hệ thống tư pháp công bằng là việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Quyền của người bào chữa theo luật tố tụng hình sự Việt Nam không chỉ là một chế định pháp lý đơn thuần mà còn là thước đo mức độ dân chủ và văn minh của hoạt động tư pháp. Luận văn này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn, dựa trên nền tảng Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015). Người bào chữa, với vai trò là người tham gia tố tụng, có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Sự tham gia của họ tạo ra một cơ chế phản biện cần thiết, giúp các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trở nên chính xác và khách quan hơn. Điều này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự. Các quyền năng của người bào chữa không phải là quyền năng phái sinh phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan tiến hành tố tụng, mà là những quyền độc lập được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, nhằm tạo ra sự cân bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, hiện thực hóa nguyên tắc suy đoán vô tội.

1.1. Phân tích địa vị pháp lý của người bào chữa hiện nay

Theo quy định tại Điều 72 BLTTHS 2015, người bào chữa bao gồm luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân và trợ giúp viên pháp lý. Địa vị pháp lý của người bào chữa được xác lập kể từ thời điểm họ được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Họ tham gia tố tụng với tư cách độc lập, không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Nhiệm vụ chính của họ là sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội. Địa vị này đảm bảo họ có thể thực hiện chức năng bào chữa một cách hiệu quả, đối trọng với chức năng buộc tội của Viện kiểm sát. Việc pháp luật ngày càng mở rộng các quyền cho người bào chữa cho thấy sự công nhận vai trò và tầm quan trọng của họ trong việc bảo đảm quyền bào chữa cho công dân.

1.2. Ý nghĩa và vai trò của luật sư trong vụ án hình sự

Vai trò của luật sư trong vụ án hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên cả phương diện chính trị, xã hội và pháp lý. Về mặt chính trị, hoạt động bào chữa hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, tôn trọng quyền con người. Về mặt xã hội, nó củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, hạn chế các trường hợp oan sai, bức cung, nhục hình. Về mặt pháp lý, người bào chữa góp phần nâng cao tính tranh tụng, đảm bảo các hoạt động tố tụng diễn ra khách quan, toàn diện và tuân thủ pháp luật. Họ không chỉ bảo vệ thân chủ mà còn bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Như Luận văn của Nguyễn Thành Công đã chỉ rõ, sự hiện diện của người bào chữa giúp người bị buộc tội – vốn ở thế yếu về tâm lý và kiến thức pháp luật – có được sự hỗ trợ cần thiết để đối mặt với quyền lực của cơ quan công tố.

II. Thách thức khi bảo đảm quyền bào chữa Thực trạng và rào cản

Mặc dù BLTTHS 2015 đã có những bước tiến vượt bậc trong việc ghi nhận quyền của người bào chữa, thực tiễn thi hành vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và thách thức. Thực trạng và giải pháp là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự. Nhiều trường hợp, người bào chữa gặp phải sự cản trở, gây khó khăn từ chính các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Những rào cản này không chỉ xuất phát từ những quy định pháp luật còn chồng chéo, chưa cụ thể mà còn từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của người bào chữa. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, một bộ phận cán bộ điều tra, kiểm sát viên vẫn còn tư duy xem người bào chữa là “bên kia chiến tuyến”, gây cản trở hoạt động điều tra thay vì là một chủ thể độc lập góp phần tìm ra sự thật. Hậu quả là quyền và nghĩa vụ của bị can bị cáo không được đảm bảo một cách trọn vẹn, ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Việc xác định và khắc phục những hạn chế này là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp.

2.1. Phân tích thực trạng cản trở trong giai đoạn điều tra

Trong giai đoạn điều tra, người bào chữa thường gặp nhiều khó khăn nhất. Điển hình là việc bị gây khó dễ khi đăng ký bào chữa, hoặc bị từ chối, trì hoãn việc cấp giấy chứng nhận bào chữa. Nghiêm trọng hơn là tình trạng cản trở quyền gặp, hỏi người bị tạm giữ, bị can. Tài liệu gốc đã dẫn chứng nhiều vụ án cụ thể, như vụ án tại Tổng Công ty SX-XNK Bình Dương, nơi luật sư đã có thông báo bào chữa nhưng vẫn bị từ chối cho gặp bị can với lý do “điều tra viên không đồng ý”. Tình trạng này vi phạm trực tiếp quy định tại Điều 73 BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn như Thông tư 46/2019/TT-BCA, làm hạn chế khả năng thu thập chứng cứ và bảo vệ thân chủ của người bào chữa ngay từ giai đoạn đầu.

2.2. Hạn chế trong quy định và nhận thức của người THTT

Một số quy định pháp luật vẫn còn tạo ra kẽ hở cho việc gây khó khăn. Ví dụ, quy định về việc người bào chữa chỉ được hỏi bị can sau khi được điều tra viên đồng ý có thể bị lạm dụng để hạn chế vai trò của luật sư. Bên cạnh đó, nhận thức của một số người tiến hành tố tụng (NTHTT) còn mang nặng tư duy buộc tội. Họ cho rằng việc để luật sư tham gia sớm và sâu vào quá trình tố tụng sẽ “làm lộ bí mật điều tra” hoặc “hướng dẫn bị can khai báo gian dối”. Tư duy này đi ngược lại nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa và tinh thần tranh tụng, vốn đòi hỏi sự bình đẳng giữa các bên để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

III. Hướng dẫn chi tiết quyền của người bào chữa theo BLTTHS 2015

Để thực hiện tốt chức năng của mình, người bào chữa cần nắm vững và vận dụng hiệu quả các quyền được quy định trong BLTTHS 2015. Đây là những công cụ pháp lý sắc bén giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị buộc tội. Quyền của người bào chữa theo luật tố tụng hình sự Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 73, bao gồm nhiều nhóm quyền quan trọng, từ việc tiếp cận người bị buộc tội, tham gia các hoạt động tố tụng, đến việc chủ động thu thập và đưa ra chứng cứ. Việc hiểu rõ các quyền này không chỉ giúp người bào chữa hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để khiếu nại khi các quyền hợp pháp của mình bị xâm phạm. Ví dụ, quyền có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung giúp giám sát hoạt động của cơ quan điều tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm tố tụng như mớm cung, bức cung. Đồng thời, quyền đọc, ghi chép, sao chụp hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra tạo điều kiện cho người bào chữa chuẩn bị tốt nhất cho giai đoạn xét xử sơ thẩmxét xử phúc thẩm.

3.1. Quyền gặp hỏi người bị buộc tội và thu thập chứng cứ

Đây là hai trong số các quyền cốt lõi. Quyền gặp, hỏi người bị buộc tội (điểm a khoản 1 Điều 73) cho phép người bào chữa tiếp xúc riêng tư với thân chủ để tìm hiểu sự việc, tư vấn pháp lý và ổn định tâm lý cho họ. Quyền thu thập chứng cứ (điểm h khoản 1 Điều 73) là một bước tiến đột phá, cho phép người bào chữa chủ động tìm kiếm tài liệu, đồ vật, gặp gỡ người làm chứng để thu thập thông tin gỡ tội. Theo khoản 2 Điều 88 BLTTHS 2015, người bào chữa có thể thu thập chứng cứ bằng cách gặp người làm chứng, bị hại; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu. Những chứng cứ này khi được giao nộp cho cơ quan tiến hành tố tụng sẽ có giá trị pháp lý như các chứng cứ khác, đảm bảo tính khách quan cho vụ án.

3.2. Quyền có mặt khi hỏi cung và tham gia các hoạt động khác

Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, khi hỏi cung bị can và các hoạt động điều tra khác như đối chất, nhận dạng (điểm b, c khoản 1 Điều 73). Sự hiện diện này có tác dụng kép: vừa là chỗ dựa tinh thần cho người bị buộc tội, vừa giám sát việc tuân thủ pháp luật của NTHTT. Sau mỗi lần hỏi cung, người bào chữa có quyền hỏi lại bị can để làm rõ các vấn đề. Việc tham gia các hoạt động tố tụng này giúp người bào chữa nắm bắt trực tiếp diễn biến vụ án, thay vì chỉ tiếp cận thông tin qua hồ sơ, từ đó xây dựng chiến lược bào chữa hiệu quả cho giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa hình sự.

IV. 05 giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa

Để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của người bào chữa, việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự là yêu cầu tất yếu. Dựa trên phân tích thực trạng và giải pháp từ luận văn, có thể đề xuất các biện pháp toàn diện, tập trung vào cả việc sửa đổi quy định và nâng cao năng lực thực thi. Cần xây dựng một cơ chế pháp lý rõ ràng, minh bạch, đảm bảo các quyền của người bào chữa không chỉ được ghi nhận trên giấy mà phải được tôn trọng trên thực tế. Các kiến nghị sửa đổi BLTTHS cần tập trung vào việc tăng cường tính bình đẳng giữa bên gỡ tội và bên buộc tội, đặc biệt là trong giai đoạn điều tragiai đoạn truy tố. Bên cạnh đó, việc tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi cản trở hoạt động của người bào chữa là biện pháp răn đe hiệu quả. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn cho đội ngũ người tiến hành tố tụng về tầm quan trọng của hoạt động bào chữa trong việc bảo vệ công lý, tránh oan sai.

4.1. Kiến nghị sửa đổi BLTTHS để tăng cường tranh tụng

Cần sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện cho người bào chữa. Cần quy định rõ chế tài xử lý đối với các hành vi cản trở quyền gặp gỡ, thu thập chứng cứ của luật sư. Nên quy định việc từ chối các yêu cầu hợp pháp của người bào chữa phải được trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Đặc biệt, cần làm rõ hơn cơ chế bình đẳng trong việc đưa ra, kiểm tra và đánh giá chứng cứ giữa bên buộc tội và bên bào chữa tại phiên tòa để hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự thực sự là khâu đột phá của cải cách tư pháp.

4.2. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan người tiến hành tố tụng

Giải pháp không chỉ nằm ở việc sửa luật mà còn ở con người thực thi. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán về vai trò và địa vị pháp lý của người bào chữa. Phải thay đổi tư duy xem luật sư là đối thủ, thay vào đó là một đối tác trong quá trình tìm kiếm sự thật. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng với việc đảm bảo quyền bào chữa trong đơn vị mình quản lý. Đồng thời, tăng cường hoạt động giám sát của Viện kiểm sát và các cơ quan của Quốc hội đối với việc bảo đảm quyền bào chữa trong hoạt động tố tụng.

4.3. So sánh luật tố tụng hình sự các nước để học hỏi

Việc so sánh luật tố tụng hình sự các nước như Đức, Mỹ, Trung Quốc (như đã phân tích trong tài liệu gốc) mang lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Ví dụ, mô hình của Đức và Mỹ trao cho người bào chữa các quyền rất rộng trong việc tiếp cận hồ sơ và thu thập chứng cứ độc lập. Học hỏi kinh nghiệm quốc tế về việc bảo mật thông tin trao đổi giữa luật sư và thân chủ, hay cơ chế khiếu nại hiệu quả khi luật sư bị cản trở, sẽ góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế về quyền con người.

04/10/2025
Quyền của người bào chữa theo luật tố tụng hình sự việt nam luận văn thạc sĩ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về quyền của người bào chữa Chƣơng 2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện một số quyền của người bào chữa Chƣơng 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện một số quyền của người bào chữa 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA 1.

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về quyền của ngƣời bào chữa 1. Khái niệm người bào chữa và quyền của người bào chữa 1. Khái niệm người bào chữa Trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động bào chữa với sứ mệnh là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bảo vệ công lý, công bằng xã hội được xem là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng của nền tư pháp đó. Hoạt động bào chữa là toàn bộ những hành vi tố tụng được pháp luật TTHS quy định do người bị buộc tội và NBC thực hiện, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và góp phần xác định sự thật vụ án.

Trước hết phải khẳng định sự tham gia của NBC trong TTHS là cần thiết, khách quan. Người bị buộc tội luôn ở trong tình trạng bị động về các thủ tục tố tụng, tâm lý hoang mang, lo sợ về số phận pháp lý của mình. Họ thường là người bị hạn chế về kiến thức pháp luật, thiếu kinh nghiệm trong các hoạt động tố tụng. Trong khi đó bên buộc tội gồm các CQTHTT và NTHTT là những chủ thể được Nhà nước trao quyền lực, đủ thẩm quyền trong việc điều tra, truy tố, xét xử.

Bản thân các chủ thể này được đào tạo bài bản, có kiến thức pháp luật vững chắc, có chuyên môn, kinh nghiệm trong xử lý tội phạm. Như vậy, người bị buộc tội luôn ở vị thế bất lợi hơn so với bên buộc tội. Vì thế sự hiện diện của NBC để giúp cho người bị buộc tội là một đòi hỏi tất yếu khách quan, tạo thế cân bằng trong 2 TTHS. NBC hay bào chữa viên là thuật ngữ chỉ về những người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt người bị buộc tội tham gia tố tụng trong vụ án hình sự để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống lại sự buộc tội, truy tố hoặc tố cáo, giúp làm giảm trách nhiệm hình sự cho thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các tình 2Trần Văn Bảy (2000), Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP.

9 tiết vụ án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ 3 án hình sự. Theo quy định của pháp luật, NBC có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về người bào chữa. Các nhà khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì quan niệm “Người bào chữa là người tham gia tố tụng với trách nhiệm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, họ được phép sử dụng mọi phương tiện do luật định để bào chữa cho bị 4 can, bị cáo về mặt pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Theo ý kiến của GS. Võ Khánh Vinh thì “Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giam, bị can, 5 bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết”. Giải thích về thuật ngữ pháp lý của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng “Người bào chữa là người được bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo mời hoặc do Viện kiểm sát, Toà án chỉ định để bào chữa và có những giúp 6 đỡ cần thiết cho bị can, bị cáo về mặt pháp l ”. Các nhà khoa học của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì khái niệm người bào chữa theo Quy định của BLTTHS năm 2015 “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố 7 tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”.

Từ các quan điểm về NBC của các nhà khoa học, tác giả nhận thấy có điểm chung đó là NBC chỉ là người tham gia TTHS. Thuật ngữ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của NBC, họ tham gia dù dưới hình thức nào (được mời hay được cử) thì vẫn nhằm mục đích chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý 3 Từ điển Bách khoa toàn thư mở https://vi.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_b%C3%A0o_ ch%E1%BB%AFa. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr. 5 Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học BLTTHS, Nxb Công an Nhân dân, tr.

6 Nguyễn Mạnh Hùng (2006), Thuật ngữ pháp lý – tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 7 Khoản 1 Điều 72 BLTTHS năm 2015. 10 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế XHCN. NBC chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình trong hoạt động tố tụng, họ không có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án.

BLTTHS năm 2015 quy định những người tham gia tố tụng với tư cách là NBC bao gồm: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý. 8 9 Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn , điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư. Quy định này nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp của luật sư, phòng ngừa tình trạng những người không có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn tham gia tố tụng như luật sư, góp phần tăng cường quản lý về hành nghề luật sư. Người đại diện của người bị buộc tội là một khái niệm tương đối mới chưa được đề cập nhiều trong khoa học pháp lý.

Tuy nhiên, nếu xét ở góc độ dân sự thì người đại diện là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các Điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khác với luật sư, người đại diện chủ động thực hiện chức năng bào chữa mà không cần có đề nghị hoặc yêu cầu từ người bị buộc tội hoặc họ cũng có thể chủ động lựa chọn NBC. Bào chữa viên nhân dân: là NBC được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc cử ra để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức này. Nghị quyết số 03/NQ – HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một người được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cử ra bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.

Trong thực tế, hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống nên chức danh này tuy vẫn được ghi nhận trong BLTTHS hiện hành, nhưng thực tiễn bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng rất hiếm hoi. Vai trò của bào chữa viên nhân dân đang dần bị lãng quên và hiện nay khi nói đến NBC thì người ta thường nghĩ ngay đến luật sư. 8 Điều 10 Luật luật sư. 9 Điều 10 Luật luật sư.

11 Trợ giúp viên pháp lý: là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự bắt đầu ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi kết thúc việc 10 xét xử với tư cách là người bào chữa ; Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp 11 của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự. Hoạt động của trợ giúp viên pháp lý trong TTHS mang tính đặc thù bởi đây là chủ thể đại diện để thực thi trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước 12 đối với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Từ những nhận định, phân tích về NBC cũng như quy định NBC theo BLTTHS năm 2015, tác giả có thể đưa ra khái niệm NBC trong TTHS như sau: Người bào chữa trong tố tụng hình sự là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, hoặc trợ giúp viên pháp lý được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và giúp đỡ người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Khái niệm quyền của người bào chữa Theo từ điển Tiếng Việt, “quyền” là điều mà pháp luật hoặc xã hội công 13 nhận, cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi.

Theo giải thích này có thể hiểu, “quyền” là khả năng thực hiện ý chí của cá nhân được pháp luật, xã hội hoặc lẽ phải chấp nhận. Mở rộng hơn, “quyền lợi” là điều mà pháp luật và xã hội cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, có thể đòi hỏi nếu thiếu hoặc bị tước đoạt. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thì “Quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ