Thực hành quyền công tố khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Hà Nội

Luận văn phân tích thực trạng thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đề xuất giải pháp từ thực tiễn tại Hà Nội.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2023

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu phổ biến trong thực tiễn Hà Nội. Theo Bộ luật Hình sự, tội này được định nghĩa là hành vi của người nào lợi dụng lòng tin, sử dụng những thủ đoạn tinh vi để lừa gạt, chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật. Các đặc điểm nổi bật bao gồm: thủ đoạn lừa gạt tinh vi, phạm vi rộng từ lừa đảo truyền thống đến lừa đảo qua mạng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra những hình thức lừa đảo mới như hack tài khoản, giả danh cán bộ, và đưa đường link lạ nhằm rút tiền từ tài khoản ngân hàng cá nhân.

1.1. Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Dấu hiệu pháp lý bao gồm: (1) Hành vi lừa gạt - sử dụng thủ đoạn giả dối để gây nhầm lẫn; (2) Đối tượng - tài sản của người khác; (3) Mục đích - chiếm đoạt tài sản trái pháp luật; (4) Kết quả - gây thiệt hại kinh tế. Những vụ án lừa đảo ở Hà Nội thường có cấu thành tội phạm đầy đủ, với các thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn.

1.2. Xu hướng biến đổi của hình thức lừa đảo qua mạng

Lừa đảo qua mạng đang trở thành xu hướng chủ yếu trong các vụ án lừa đảo hiện nay. Các thủ đoạn mới bao gồm: hack tài khoản mạng xã hội, giả danh công chức để lừa tiền, tạo các website giả mạo, gửi tin nhắn lừa đảo qua SMS hoặc ứng dụng chat. Tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải có biện pháp đấu tranh hiệu quả.

II. Thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án lừa đảo

Thực hành quyền công tố là một trong những chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Trong lĩnh vực lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quyền công tố khởi tố được thực hành nhằm: (1) Phát hiện, xác minh các dấu hiệu tội phạm lừa đảo; (2) Xác định có căn cứ để khởi tố hay không; (3) Bảo đảm tính hợp pháp của hành vi khởi tố. Vai trò của kiểm sát viên là đặc biệt quan trọng trong việc chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm. Theo thực tiễn Hà Nội, thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án lừa đảo đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố kịp thời.

2.1. Nội dung thực hành quyền công tố khởi tố

Nội dung chính bao gồm: (1) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra trong giai đoạn khởi tố; (2) Yêu cầu điều tra bổ sung khi chưa đủ căn cứ; (3) Không phê chuẩn quyết định khởi tố khi không có căn cứ; (4) Phê chuẩn quyết định khởi tố khi đủ điều kiện. Kiểm sát viên phải đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

2.2. Mối quan hệ giữa công tố và điều tra vụ án lừa đảo

Kiểm sát viên và cơ quan điều tra phối hợp chặt chẽ trong việc xác minh dấu hiệu tội phạm. Kiểm sát viên có quyền: yêu cầu cấp dữ liệu, tài liệu mới; đề xuất hướng điều tra; từ chối phê chuẩn quyết định khởi tố nếu sai phạm. Sự phối hợp này đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong khởi tố vụ án hình sự.

III. Thực tiễn thực hành quyền công tố ở Hà Nội

Trên địa bàn thành phố Hà Nộ, công tác thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Số lượng vụ án lừa đảo được khởi tố tăng lên hàng năm, phản ánh sự quyết liệt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã phối hợp với các cơ quan điều tra để xử lý nhanh chóng, chính xác các vụ án. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, công tác này vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục. Những hạn chế chủ yếu bao gồm: năng lực cán bộ chưa đồng đều, kinh phí điều tra bị hạn chế, chứng cứ trong các vụ án lừa đảo qua mạng khó thu thập.

3.1. Tình hình khởi tố vụ án lừa đảo tại Hà Nội

Hà Nội ghi nhận số lượng vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên tục tăng, đặc biệt sau giai đoạn đại dịch COVID-19. Đặc thù của các vụ án này là thủ đoạn đa dạng, phạm nhân thường ở nhiều địa phương khác nhau. Công tác điều tra và khởi tố vụ án lừa đảo yêu cầu sự phối hợp liên bộ, ngành, giữa các địa phương.

3.2. Những kết quả và tồn tại trong thực hành quyền công tố

Kết quả: Tỷ lệ phê chuẩn quyết định khởi tố cao, số vụ án bị không phê chuẩn thấp. Tồn tại: Thời gian xử lý kéo dài, chứng cứ điện tử khó xác minh, cán bộ kiểm sát chưa đủ chuyên môn về tội lừa đảo qua mạng. Nguyên nhân: Thiếu hạ tầng công nghệ, chưa có hợp tác quốc tế trong điều tra.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố

Để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Hà Nội, cần triển khai một số giải pháp toàn diện. Thứ nhất, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho kiểm sát viên về các loại tội phạm lừa đảo hiện đại, nhất là lừa đảo qua mạng. Thứ hai, đầu tư công nghệ thông tin để hỗ trợ việc xác minh chứng cứ điện tử. Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp và các nhà mạng, các ngân hàng để nhanh chóng cung cấp thông tin. Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong truy nã các phạm nhân lừa đảo xuyên biên giới.

4.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố

Yêu cầu cấp thiết bao gồm: (1) Nâng cao chất lượng phê chuẩn quyết định khởi tố; (2) Giảm thời gian xử lý vụ án; (3) Chống oan sai hiệu quả; (4) Bảo đảm không bỏ lọt tội phạm. Các yêu cầu này xuất phát từ thực tiễn tăng cao của tội phạm lừa đảo và nhu cầu bảo vệ quyền sở hữu của công dân.

4.2. Các giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả công tố

Giải pháp 1: Tăng cường đào tạo kiến thức về tội phạm công nghệ. Giải pháp 2: Đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ thông tin. Giải pháp 3: Xây dựng quy trình phối hợp liên ngành. Giải pháp 4: Nâng cao ý thức pháp luật cộng đồng về tội lừa đảo. Giải pháp 5: Áp dụng các quy định mới của pháp luật tố tụng hình sự.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho việc áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS nhằm xác định và xử lý sự việc phạm tội đó. Từ khái niệm tội phạm lừa đảo CĐTS như đã phân tích tại mục 1., khái niệm vụ án hình sự nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa vụ án lừa đảo CĐTS như sau: Vụ án lừa đảo CĐTS là vụ việc có dấu hiệu của tội lừa đảo CĐTS đã được Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án để áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS. Trước hết cần xây dựng khái niệm khởi tố vụ án hình sự Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng.

Trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm lâm, Hải quan,. được áp dụng một số biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để kiểm tra, xác minh làm rõ tính xác thực của các tin báo, tố giác về tội phạm đã tiếp nhận. Việc kiểm tra, xác minh các tin báo, tố giác về tội phạm có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau tùy thuộc vào tính chất của sự việc, các biện pháp đó có thể là: Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết và thông tin liên quan đến tin báo, tố giác về tội phạm; yêu cầu cung cấp các kết luận thanh tra, kiểm tra liên quan đến thông tin về tội phạm để 16 làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm v. Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là chỉ xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm khởi tố vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: "Là việc các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Để có thể xây dựng khái niệm THQCT trong việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS, cần phải làm sáng tỏ thế nào quyền công tố và thế nào là THQCT. Nói đến quyền công tố là nói đến việc VKSND nhân danh quyền lực công của Nhà nước để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người phạm tội, còn THQCT là VKSND sử dụng những quyền hạn được Nhà nước giao để thực hiện những hoạt động tố tụng, hành vi tố tụng cần thiết cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người phạm tội. Như vậy có thể nói THQCT chính là việc tổ chức thực hiện quyền công tố.

Về mặt lập pháp, thuật ngữ “quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1960, theo đó “Viện kiểm sát nhân dân tối cao tối cao và Viện kiểm sát nhân dân các địa phương có quyền khởi tố về hình sự và giữ quyền công tố trước Tòa án nhân dân cùng cấp”. Thuật ngữ “quyền công tố” tiếp tục được ghi nhận trong các văn bản pháp luật được ban hành sau đó. Tuy nhiên, theo các quy định pháp luật sau đó thì phạm vi quyền công tố được mở rộng hơn, không chỉ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự mà trong cả quá trình tố tụng vụ án hình sự. Về mặt khoa học, thuật ngữ và khái niệm “quyền công tố” thường được các nhà luật học sử dụng khi luận về chức năng của VKSND trong tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, cho đến nay trong giới luật học vẫn chưa có sự thống nhất trong nhận thức nội hàm của khái niệm quyền công tố. Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền mà Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để truy cứu trách nhiệm 17 hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Và quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự. Đây chính là hoạt động tiến hành tố tụng của ĐTV, KSV và những người được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định người phạm tội cũng như những căn cứ để kết tội và áp dụng hình phạt cụ thể đối với người phạm tội [3, tr.

Theo tác giả, quan điểm nêu trên là quá rộng, dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự, đã đồng nhất khái niệm quyền công tố và nguyên tắc tố tụng hình sự. Hơn nữa, theo quan điểm này thì không chỉ CQĐT, VKSND mà còn cả các chủ thể khác cũng THQCT. Cũng có quan điểm khác cho rằng, quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là VKSND), cơ quan này có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó VKSND quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng cụ thể và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội [3, tr.

Theo tác giả, quan điểm vừa nêu đã thể hiện rõ ràng và chính xác hơn với quan niệm chung về quyền công tố, được thể hiện rõ ràng hơn trong Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm 2015. Thuật ngữ THQCT được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 138 Hiến pháp 1980 và được cụ thể hóa tại các điều 1 và 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981. Tiếp sau đó, thuật ngữ này được ghi nhận tại Điều 137 Hiến pháp 1992, Điều 107 Hiến pháp 2013 cũng như được cụ thể hóa trong BLTTHS và Luật tổ chức VKS. Hiện nay, THQCT trở thành chức năng quan trọng của VKS, quy định cụ thể tại điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Bên cạnh đó, chức năng THQCT còn được quy định tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND ăm 2014, cụ thể như sau: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. 18 Cụm từ “thực hành” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện” [16]. Như vậy, các quyền năng của VKSND khi THQCT phải được VKSND thực hiện trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. THQCT cũng được các nhà luật học nhận thức theo nhiều cách khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó” [8, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc Viện Kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định để đưa người (hoặc pháp nhân thương mại) có hành vi phạm tội ra truy tố và buộc tội trước Tòa án” [8, tr. Hai quan điểm trên đều có sự thống nhất về mục đích của THQCT là truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội người phạm tội trước Toà án. Tuy nhiên, trong các quan điểm đó vẫn chưa thể hiện được“các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định” có điểm chung là gì để phân biệt với các quyền năng pháp lý của kiểm sát tuân theo pháp luật [1, tr.

Quan điểm thứ ba cho rằng: thực hành quyền công tố là việc VKS sử dụng những quyền năng pháp lý trong tố tụng hình sự để đưa ra các quyết định, yêu cầu nhằm thực hiện sự buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Tác giả đồng ý với quan điểm thứ ba vì đã đưa ra đầy đủ nội hàm của khái niệm THQCT hơn cả, trên cơ sở đó, khái niệm THQCT trong việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS được hiểu như sau: “Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng các quyền năng pháp lý trong tố tụng hình sự để đưa ra các quyết định, yêu cầu nhằm bảo đảm việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS là có căn cứ và đúng pháp luật”. Đặc điểm, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản Xét về đặc điểm, THQCT trong việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS có những 19 đặc điểm chung của THQCT, những đặc điểm riêng của THQCT trong việc khởi tố vụ án hình sự và những đặc điểm riêng gắn với tội lừa đảo CĐTS nói riêng. Vì thế các đặc điểm này bao gồm: Thứ nhất, THQCT trong việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS là hoạt động có tính quyền lực Nhà nước, tính bắt buộc thực hiện, tính được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước.

Hoạt động này được thực hiện bởi VKSND và chỉ VKSND là cơ quan duy nhất được Nhà nước trao quyền thực hiện chức năng THQCT nói chung, THQCT trong việc khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS nói riêng. Đó là VKSND được sử dụng các quyền hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự như để đảm bảo tính có căn cứ khi khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS. Trong trường hợp cần thiết, VKSND có thể trực tiếp khởi tố vụ án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ